ITIVUTTAKA 3

 

Jan 03, 2026

 

Phẩm 3 Pháp

Itivuttaka 99 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 99

Ba Minh của vị Arahant.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta dựa vào Pháp để xác định [một người] là vị Arahant (có khi Phật dùng từ Bà la môn để chỉ bậc Arahant) có ba Minh, chứ không như những người khác dựa vào việc trích dẫn và tụng đọc (để đánh giá 1 người có ba Minh, thuộc 3 bộ Kinh Veda là có 3 Minh). Và dựa vào Pháp như thế nào để xác định?

 “Có trường hợp một vị Tỳ kheo quán tưởng lại vô số kiếp sống trước đây của mình, là một kiếp, hai… năm, mười… năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp, nhiều a tăng kỳ thành kiếp, nhiều a tăng kỳ hoại kiếp, nhiều a tăng kỳ thành và hoại kiếp của vũ trụ: ‘Ở đó ta có tên như vậy, thuộc dòng tộc như vậy, có hình dáng như vậy. Thức ăn của ta như vậy, sự nhạy cảm của ta với niềm vui và nỗi đau như vậy, kết thúc đời sống của ta như vậy.’”Ở nơi này chết đi, ta lại tái sinh ở đó. Ở đó ta cũng có tên như vậy, thuộc dòng họ như vậy, có hình dáng như vậy. Thức ăn của ta như vậy, sự nhạy cảm của ta với khoái lạc và khổ đau như vậy, kết thúc cuộc đời ta như vậy. Ở nơi đó chết đi, ta lại tái sinh ở đây.’ Như vậy, người ấy quán tưởng lại vô số kiếp sống trước đây của mình với đầy đủ hình thức và chi tiết.

 “Đây là Minh đầu tiên, Túc Mạng Minh mà vị ấy đạt được. Vô minh đã bị diệt trừ; trí tuệ  đã phát sinh; bóng tối đã bị diệt trừ; ánh sáng đã phát sinh, xảy ra ở người luôn chú tâm, nhiệt thành và kiên định.

 “Rồi vị Tỳ kheo lại nhìn thấy bằng con mắt thiên nhãn, thần thông, thanh tịnh và vượt trội hơn con người, thấy những chúng sinh chết đi và tái sinh, và vị ấy biết được họ thấp kém hay ưu việt, đẹp đẽ hay xấu xí, may mắn hay bất hạnh như thế nào theo hành động của họ: ‘Những chúng sinh này mang trong mình hành vi bất thiện về thân, về lời nói và về ý nghĩ; những kẻ phỉ báng bậc thánh, có tà kiến ​​và hành động theo ảnh hưởng của tà kiến , khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh ở cõi khổ, cõi xấu, cõi đoạ xứ, địa ngục.

Còn những chúng sinh, những người có hành vi thiện nơi thân, nơi lời nói và tâm; những người không phỉ báng bậc thánh, có chánh kiến ​​và hành động theo ảnh hưởng của chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh ở cõi lành, cõi trời. Như vậy, nhờ thiên nhãn thần thánh, thanh tịnh và vượt trội hơn nhãn quan con người, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, phân biệt được họ thấp kém hay ưu việt, đẹp hay xấu, may mắn hay bất hạnh tuỳ theo hành động của họ.

“Đây là thiên nhãn minh, minh thứ hai mà vị ấy đạt được. Vô minh đã bị diệt trừ; trí tuệ đã phát sinh; bóng tối đã bị diệt trừ; ánh sáng đã phát sinh, xảy ra ở người luôn chú tâm, sốt sắng và kiên định.

 “Rồi vị Tỳ kheo với phiền não được trừ diệt, ở trong tỉnh giác giải thoát, trí tuệ giải thoát,  trực tiếp biết và nhận ra các phiền não, lậu hoặc đã chấm dứt nơi chính mình ngay tại đây và bây giờ.

 “Đây là Minh thứ ba, Lậu Tận Minh mà người ấy đạt được. Vô minh đã bị diệt trừ; trí tuệ đã phát sinh; bóng tối đã bị diệt trừ; ánh sáng đã phát sinh, xảy ra ở người luôn chú tâm, sốt sắng và kiên định.

 “Dựa vào Pháp, theo cách này mà Ta xác định [một người] là vị Arahant có Ba Minh, chứ không như người khác dựa vào việc trích dẫn và tụng niệm (để đánh giá 1 người có ba Minh).”

Vị ấy biết về các kiếp trước của mình. Vị ấy nhìn thấy các cõi trời và những cõi khổ, đã đạt được sự chấm dứt sinh tử, là một bậc hiền triết thuần thục các tri kiến trực tiếp. Nhờ ba Minh này mà vị ấy trở thành một vị Arahant Tam Minh.(1) Vị ấy là người mà Ta gọi là người có ba Minh, không phải 1 người chỉ biết trích dẫn, tụng đọc.

Ghi chú

1. Trong tôn giáo Bà la môn, “người có ba Minh, ba tri thức” là người đã thuộc lòng ba bộ kinh Veda. Câu thơ này lấy thuật ngữ Bà la môn và mang lại cho nó một ý nghĩa mới trong Phật giáo.

Xem thêm: MN 4; Thig 5:11; Thig 5:12; Thig 12; Thig 13:2

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti99.html

………………………

Kinh Itivuttaka 98 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 98

Hai loại bố thí/quà tặng, chia sẻ và giúp đỡ: về vật chất và về Phật pháp.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có hai loại bố thí: bố thí vật chất và bố thí Phật pháp. Trong hai loại bố thí này, bố thí Phật pháp là tối thượng. Có hai loại chia sẻ: chia sẻ vật chất và chia sẻ Phật pháp. Trong hai loại chia sẻ này, chia sẻ Phật pháp là tối thượng. Có hai loại giúp đỡ: giúp đỡ về vật chất và giúp đỡ về Phật pháp. Trong hai loại giúp đỡ này, giúp đỡ về Phật pháp là tối thượng.”

Loại bố thí Phật Pháp mà Ngài mô tả là tối thượng và vô song, sự chia sẻ Phật Pháp mà Đức Phật đã ca ngợi: vậy có ai tin vào công đức tối thượng, khôn ngoan, sáng suốt mà lại không bố thí Phật pháp vào những thời điểm thích hợp?

Cả người nói và những người lắng nghe, những người chú ý đến thông điệp của Đức Phật, tin tưởng vào thông điệp của Đức Phật thì Phật Pháp sẽ làm cho lợi ích quan trọng nhất của họ được thanh lọc.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti98.html

…………………..

Jan 02, 2026

Itivuttaka 97 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 97

Định nghĩa về đức hạnh đáng ngưỡng mộ, phẩm chất đáng ngưỡng mộ và trí phân biệt đáng ngưỡng mộ.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo có đức hạnh đáng ngưỡng mộ, phẩm chất đáng ngưỡng mộ và trí phân biệt đáng ngưỡng mộ thì trong Chánh Pháp và Giới Luật này gọi là người hoàn thiện, viên mãn, bậc xuất chúng.

 “Thế nào là một Tỳ kheo có đức hạnh đáng ngưỡng mộ? Đó là vị sống tiết độ theo giới luật Pāṭimokkha, hoàn thiện trong hành vi và phạm vi hoạt động. Vị Tỳ kheo ấy tu tập, tuân giữ giới luật, nhận thấy nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhất. Theo cách này, vị Tỳ kheo là người có đức hạnh đáng ngưỡng mộ. Như vậy vị ấy là người có đức hạnh đáng ngưỡng mộ.”

 “Thế nào là một vị Tỳ kheo có phẩm chất đáng ngưỡng mộ? Đó là vị sống chuyên tâm phát triển bảy [bộ] phẩm chất là đôi cánh dẫn đến giác ngộ (7 Bồ Đề Phần).(1) Theo cách này, vị Tỳ kheo là người có phẩm chất đáng ngưỡng mộ. Như vậy vị ấy là người có đức hạnh đáng ngưỡng mộ và phẩm chất đáng ngưỡng mộ.

 “Thế nào là một vị Tỳ kheo có trí phân biệt đáng ngưỡng mộ? Đó là vị Tỳ kheo chấm dứt phiền não, an trú trong sự tỉnh giác giải thoát và trí phân biệt giải thoát không phiền não, trực tiếp biết và tự mình nhận ra điều đó ngay tại đây và bây giờ. Theo cách này, vị Tỳ kheo là người có trí phân biệt đáng ngưỡng mộ. Như vậy, vị ấy có đức hạnh đáng ngưỡng mộ, phẩm chất đáng ngưỡng mộ, trí phân biệt đáng ngưỡng mộ. Trong Chánh Pháp và Giới luật này, vị ấy được gọi là Bậc hoàn thiện, viên mãn, xuất chúng.”

Không có điều gì sai trái trong tư tưởng, lời nói hay hành động, vị ấy được gọi là người có đức hạnh đáng ngưỡng mộ: vị Tỳ Kheo tận tâm.

Phát triển toàn diện các phẩm chất dẫn đến sự tự giác ngộ, vị ấy được gọi là người có phẩm chất đáng ngưỡng mộ: vị Tỳ Kheo khiêm nhường.

Trí phân biệt được ngay tại đây, trong chính mình, chấm dứt phiền não, vị ấy được gọi là người có trí phân biệt đáng ngưỡng mộ: vị Tỳ Kheo không phiền não.

Hoàn thiện những điều này, không phiền não, không còn nghi ngờ, không còn dính mắc gì vào thế gian, vị ấy đã từ bỏ tất cả.

Ghi chú

1. Xem ghi chú ở §82.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti97.html

……………….

Kinh Itivuttaka 96 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 96

Cái ách của năm dục và cái ách của sự tái sinh.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  bị trói buộc bởi ách của năm dục và ách của sự tái sinh thì người ấy vẫn còn tái sinh trở lại cõi Dục Giới này. Thoát khỏi ách của năm dục nhưng vẫn bị trói buộc bởi ách của sự tái sinh, thì là bậc Thánh Bất Lai, không trở lại cõi Dục Giới này nữa. Thoát khỏi cả hai ách của năm dục và ách của sự tái sinh, thì vị ấy là vị Thánh Arahant, chấm dứt mọi phiền não.”

Bị trói buộc bởi cả hai ách của năm dục và ách của sự tái sinh, chúng sinh sẽ đi vào vòng luân hồi dẫn đến sinh tử. Những người đã từ bỏ năm dục mà chưa chấm dứt được phiền não thì bị trói buộc bởi ách của sự tái sinh, được gọi là những vị Thánh Bất Lai, không còn trở lại cõi Dục giới nữa. Còn những người đã chấm dứt nghi ngờ, thì không còn kiêu ngạo hoặc tái sinh thêm nữa. Những người ấy đã chấm dứt sự ô uế, phiền não, trong khi vẫn còn ở thế gian thì đã vượt qua được tất cả.

Xem thêm: AN 2:36; AN 4:10

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti96.html

……………….

Itivuttaka 95 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 95

Ba cách chư thiên (Dục Giới) hưởng thụ năm dục.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  có ba cách hưởng thụ năm dục nơi cõi trời Dục Giới. Là ba cách nào? Vui thích hưởng thụ năm dục đang có (chư thiên Dục Giới cõi thấp), vui thích hưởng thụ trong việc sáng tạo (cõi Hoá Lạc), vui thích hưởng thụ nơi những gì người khác tạo ra (cõi Tha Hoá Tự Tại).(1) Đây là ba cách chư thiên (Dục Giới) hưởng thụ năm dục.”

Chư thiên hưởng thụ năm dục đang có, chư thiên vui thích hưởng thụ trong việc sáng tạo (cõi Hoá Lạc), chư thiên vui thích hưởng thụ nơi những gì người khác tạo ra (cõi Tha Hoá Tự Tại), và bất kỳ ai khác đang hưởng thụ năm dục ở vũ trụ này hoặc bất cứ nơi nào khác, đều không thoát ra khỏi luân hồi. Hiểu được nhược điểm này của việc hưởng thụ năm dục, bậc khôn ngoan sẽ từ bỏ mọi mong ước về năm dục, dù là con người hay vị thiên.

Sau khi cắt đứt dòng chảy của lòng tham đối với những hình hài đẹp đẽ, quyến rũ khó vượt qua, đã thấu hiểu khổ đau một cách trọn vẹn, họ hoàn toàn được giải thoát không còn dư sót. Họ là những người khôn ngoan, với tầm nhìn cao quý của bậc đạt được trí tuệ, tri kiến đúng đắn, biết rõ cách chấm dứt vòng luân hồi, sẽ không còn tái sinh nữa.

Ghi chú:

1. Như câu trên đã nêu rõ, ba loại này biểu thị ba cấp độ của chư thiên trong cõi Dục giới hưởng khoái lạc năm dục. Trong đó “Những vị thiên nắm quyền kiểm soát tức cõi Tha Hoá Tự Tại” là cõi trời cao nhất trong Dục Giới.

Xem thêm: SN 55:54; Kinh Pháp Cú Dhp 186—187

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti95.html

……………………

Itivuttaka 94 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 94

Tâm không tán loạn, phân tán theo bên ngoài, cũng không bị cuốn vào bên trong, không tham đắm vào niềm vui trong thiền.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  một Tỳ kheo nên suy ngẫm, tu học theo cách mà tâm của  vị ấy không tán loạn, phân tán theo bên ngoài, cũng không bị cuốn vào bên trong, không tham đắm niềm vui trong thiền, vị ấy không bám chấp/nuôi dưỡng, không bị xáo trộn nên không có sự phát sinh của sinh, lão, tử, hay khổ đau trong tương lai.”(1)

Một vị Tỳ kheo đã từ bỏ bảy chấp trước và cắt đứt con đường dẫn dắt đến 7 chấp trước ấy:(2) thì sự lang thang trong luân hồi chấm dứt; đối với vị ấy không còn sự tái sinh nào nữa.

Ghi chú

1. Trong MN 138, Thượng Toạ (Ven. tức là 1 vị sau này trùng tên, 0 phải vị Arahant thời Phật) MahāKaccāna đưa ra lời giải thích sau cho câu nói khó hiểu này:

“Thế nào là tâm không bị phân tán và tán loạn ra bên ngoài? Trường hợp khi nhìn thấy một cảnh sắc, tâm không tiếp tục suy tưởng về cảnh sắc đó, không bị ràng buộc, không bị xiềng xích, không bị trói buộc, hay bị cuốn theo sự hấp dẫn của cảnh sắc đó. Như vậy là tâm không bị phân tán và tán loạn ra bên ngoài. [Tương tự với các giác quan khác.]…

 “Và thế nào không bị cuốn vào bên trong, không tham đắm vào niềm vui trong thiền? Trường hợp vị Tỳ kheo hoàn toàn tách biệt khỏi dục vọng, tách biệt khỏi những điều bất thiện, nhập vào và an trú trong thiền định thứ nhất: hỷ lạc và niềm vui sinh ra từ sự tách biệt, đi cùng với tư duy và đánh giá có định hướng. Tâm của vị ấy không theo dòng chảy của hỷ lạc và niềm vui sinh ra từ sự tách biệt, không bị ràng buộc, không bị xiềng xích, không bị trói buộc, hoặc bị cuốn theo sự hấp dẫn của hỷ lạc và niềm vui sinh ra từ sự tách biệt. [Tương tự với thiền định thứ hai, thứ ba và thứ tư.] Tâm như vậy là không bị cuốn vào bên trong, không tham đắm vào niềm vui trong thiền.”

 “Và thế nào là không bị kích động do không bám chấp/duy trì? Trường hợp một đệ tử được các bậc Thánh nhân dạy dỗ, là người kính trọng các bậc Thánh nhân, am hiểu và tu tập nghiêm túc giáo pháp của bậc Thánh; người kính trọng những người chính trực, am hiểu và tu tập nghiêm túc theo Chánh Pháp của bậc Thánh, không coi vẻ bên ngoài, hình thức là bản ngã, không coi bản ngã là vẻ bên ngoài, hình thức, không coi hình thức có trong bản ngã, không coi bản ngã có trong hình thức. Hình thức, vẻ bên ngoài của người ấy thay đổi và không ổn định, nhưng tâm, ý thức của người ấy thì không thay đổi theo sự thay đổi của hình thức bên ngoài.

Tâm của người ấy không bị chi phối khi có sự thay đổi về mặt hình thức hoặc sự phát sinh các tâm bất thiện. Và bởi vì tâm, ý thức của người ấy không bị chi phối, người ấy không cảm thấy sợ hãi, bị đe dọa, hay quan tâm lo lắng. [Tương tự với các nhóm uẩn thọ, tưởng, hành và thức.] “Này các thầy, đây là cách mà tâm người ấy không bị chi phối do không bám chấp/nuôi dưỡng.”

2. “Bảy chấp trước” là tham lam, sân hận, si mê, tà kiến, kiêu ngạo, ô nhiễm và tà dâm. “Con đường dẫn dắt đến 7 chấp trước” là tham ái, dẫn đến sự tái sinh.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti94.html

…………………..

Jan 01, 2026

Itivuttaka 93 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 93

Ba ngọn lửa: Tham lam, Sân hận và Si mê.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba ngọn lửa này. Là ba ngọn lửa nào? Ngọn lửa tham lam, ngọn lửa sân hận, ngọn lửa si mê. Đó là ba ngọn lửa.”

Ngọn lửa tham lam bùng cháy nơi người phàm trần vui thích trong năm dục, mê đắm trong năm dục; ngọn lửa thù hận bùng cháy nơi người hung ác hay giết hại; ngọn lửa si mê bùng cháy nơi người hoang mang, không biết đến giáo lý cao quý Phật dạy. Khi không hiểu những ngọn lửa này, con người yêu thích bản ngã, không được giải thoát khỏi xiềng xích của Māra, làm gia tăng hàng ngũ trong địa ngục, súc sinh, ma quỷ, ngạ quỷ.

Còn những người ngày đêm chuyên tâm vào lời dạy của Bậc Giác Ngộ chân chính, dập tắt ngọn lửa tham, luôn luôn nhận biết được điều xấu xa. Họ là những người ưu tú, dập tắt ngọn lửa sân hận bằng lòng từ tâm, dập tắt ngọn lửa si mê bằng sự sáng suốt dẫn đến thấu suốt. Họ là những người tài giỏi, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm, đã dập tắt hoàn toàn [các ngọn lửa], đã thấu hiểu trọn vẹn sự khổ đau, hoàn toàn được giải thoát.

Họ là những người trí tuệ, với tầm nhìn cao quý của người đạt được trí tuệ, tri thức đúng đắn, trực tiếp biết được sự chấm dứt của luân hồi, không còn tái sinh nữa.

Xem thêm: SN 35:28; Ud 3:10

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti93.html

………………….

Itivuttaka 92 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 92

Nhìn thấy Chánh pháp là nhìn thấy Đức Phật và rất gần Ngài cho dù đang ở xa về mặt vật lý.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, cho dù một Tỳ kheo nào có nắm lấy y ngoài của ta, đi ngay phía sau ta, đặt chân theo dấu chân ta, nhưng nếu Tỳ kheo ấy tham đắm trong năm dục, mạnh mẽ trong ước muốn, ác tâm, có ý nghĩ sa đoạ, chánh niệm rối loạn, không tỉnh giác, không tập trung, tâm trí phân tán, và các giác quan không được kiểm soát, thì Tỳ kheo ấy sống xa Ta và Ta cũng cách xa Tỳ kheo ấy. Tại sao vậy? Bởi vì Tỳ kheo ấy không thấy Chánh Pháp. Khi không thấy Chánh Pháp thì Tỳ kheo ấy không thấy Ta.

 “Còn một Tỳ kheo cho dù sống cách xa Ta trăm dặm nhưng nếu Tỳ kheo ấy không tham đắm trong năm dục, không mạnh mẽ trong ước muốn, không ác tâm, không có ý nghĩ sa đoạ, chánh niệm vững chắc, tỉnh giác, tập trung, nhất tâm, và các giác quan được kiềm chế tốt, thì Tỳ kheo ấy gần Ta và Ta cũng gần Tỳ kheo ấy. Tại sao vậy? Bởi vì Tỳ kheo ấy thấy Chánh pháp. Khi thấy Chánh pháp thì Tỳ Kheo ấy nhìn thấy Ta.”

Dù theo sát phía sau, mà lòng đầy tham vọng, bực bội: hãy xem người ấy cách xa Ta biết bao! Như kẻ bị xáo trộn cách xa người thanh thản, kẻ bị ràng buộc cách xa người tự do, kẻ tham lam cách xa người không tham lam.

Còn người khôn ngoan, nhờ tri kiến trực tiếp về Chánh pháp, nhờ sự hiểu biết về Chánh pháp, trở nên tĩnh lặng và thanh thản như mặt hồ không bị gió làm xao động: hãy xem người ấy gần gũi ta biết bao! như kẻ thanh thản gần với kẻ thanh thản, kẻ tự do gần với kẻ tự do, kẻ không tham lam gần với kẻ không tham lam.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti92.html

…………………..

Itivuttaka 91 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 91

Tại sao người khôn ngoan lại chọn đời sống khất thực, và những nguy hiểm nào đang chờ sẵn nếu họ không tu học, rèn luyện tâm.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  khất thực là một phương tiện kiếm sống thấp hèn. Trên đời này người ta hay chê bai [nói rằng], ‘Ngươi đi khất thực với cái bát trên tay!’ Nhưng những thanh niên hiểu biết, xuất thân từ gia đình khá giả đã chọn cách sống này vì một lý do chính đáng.

Họ không bị ép buộc phải sống khất thực bởi vua chúa hay kẻ cướp, cũng không phải vì nợ nần, sợ hãi hay mất kế sinh nhai, mà là vì suy nghĩ: ‘Chúng ta bị vây hãm bởi sinh, lão, tử, bởi khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng, bị vây hãm bởi căng thẳng, bị áp lực đè nặng. Ước gì ta biết được cách chấm dứt toàn bộ khổ đau và phiền não này!’

Nhưng người thanh niên xuất thân từ gia đình khá giả khi đã ra đi theo con đường này, có thể còn tham đắm trong năm dục, mạnh mẽ trong ước muốn, ác tâm, có ý nghĩ sa đọa, chánh niệm rối bời, thiếu tỉnh giác, không tập trung, tâm trí phân tán và các giác quan của người ấy không được kiểm soát.

Giống như một cây đuốc nơi giàn hỏa táng cháy ở cả hai đầu, dính đầy phân ở giữa, không dùng được vào việc gì trong làng mạc hay trong hoang mạc: Ta nói với các thầy, đây chính là hình ảnh so sánh với người này. Người ấy đã bỏ đi những thú vui của người tại gia mà cũng không hoàn thành mục đích của đời sống chiêm nghiệm.”

Người ấy đã bỏ đi thú vui của người tại gia và cũng không đạt được mục đích của đời sống chiêm nghiệm, là người bất hạnh! Người ấy phá hoại, vứt bỏ cuộc đời mình, chết như một cây đuốc dùng trong đám hoả táng.

Thà ăn một hòn sắt nóng đang cháy rực, còn hơn là nhận của bố thí mà sống vô nguyên tắc và không kiềm chế (1)

Ghi chú

1. Câu cuối này trong kinh Pháp Cú Dhp 308.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti91.html

………………….

Kinh Itivuttaka 90 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 90

Ba đối tượng tối thượng của niềm tin: Đức Phật, Chánh Pháp và Tăng Đoàn.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba đối tượng tối thượng của niềm tin. Là ba đối tượng nào?

 “Trong tất cả chúng sinh, loài không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân; có hình dạng hay vô hình, vô sắc; có tưởng, vô tưởng hay phi tưởng phi phi tưởng, thì Như Lai, Bậc Giác Ngộ chân chính, được coi là tối thượng. Những ai có niềm tin vào Đức Phật là có niềm tin vào Đấng Tối Thượng; và những ai có niềm tin vào Đấng Tối Thượng thì sẽ có kết quả tối thượng.

 “Trong tất cả các pháp, dù là pháp do duyên tạo hay không do duyên tạo (hữu vi hay vô vi), vô chấp, thì sự chế ngự dục vọng, diệt trừ khát vọng, nhổ tận gốc chấp trước, phá vỡ vòng luân hồi, tiêu diệt tham ái, vô chấp, chấm dứt, chứng ngộ Giải thoát, được coi là tối thượng. Những ai tin tưởng vào pháp vô chấp thì tin tưởng vào điều tối thượng; và những ai tin tưởng vào điều tối thượng thì sẽ có kết quả tối thượng.

“Trong tất cả các pháp do duyên tạo, thì Bát Chánh Đạo, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, được coi là tối thượng. Những ai có niềm tin vào pháp Bát Chánh Đạo thì có niềm tin vào điều tối thượng; và  những ai có niềm tin vào điều tối thượng thì sẽ có kết quả tối thượng.

“Trong bất kỳ cộng đồng hay hội nhóm nào, thì Tăng đoàn gồm các Thánh đệ tử của Như Lai được coi là tối cao, tức là bốn nhóm đệ tử cao quý khi xét theo từng đôi, tám khi xét riêng(1). Những ai có niềm tin vào Tăng đoàn thì có niềm tin vào điều tối thượng; và  những ai có niềm tin vào điều tối thượng thì sẽ có kết quả tối thượng

 “Này các Tỳ kheo, Phật, Pháp, Tăng là ba đối tượng tối cao của niềm tin.”

Với niềm tin vững chắc, nhận ra rằng Chánh Pháp là tối thượng; niềm tin vào Đức Phật tối thượng, là Bậc xứng đáng nhận cúng dường vô song; niềm tin vào Chánh Pháp tối thượng, niềm hạnh phúc của định, không chấp trước; niềm tin vào Tăng đoàn tối thượng, là bậc vô song về ruộng phước điền; sau khi cúng dường cho Bậc tối thượng, người ta tích lũy được công đức tối thượng, tuổi thọ và sắc đẹp tối thượng, địa vị, danh dự, hạnh phúc và sức mạnh tối thượng.

Sau khi cúng dường cho Bậc tối thượng, người trí tuệ hướng về Chánh Pháp tối thượng, dù trở thành vị trời hay con người thì đều được hoan hỷ vì họ đạt được phước báu tối thượng.

Ghi Chú

1. Bốn nhóm đệ tử cao quý khi được xem xét theo từng cặp là những vị đã đạt được (1) Thánh Sơ Đạo, Sơ Quả; (2) Thánh Nhị Đạo, Nhị Quả; (3) Thánh Tam Đạo, Tam Quả; và (4) Thánh Tứ Đạo, Tứ Quả.

Xét thành tựu Đạo, Quả riêng lẻ thì có tám. Itivuttaka này gần như giống hệt với AN 4:34.

Xem thêm: AN 4:52; AN 7:56; AN 10:92; Kinh Pháp Cú Dhp 188—192

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti90.html

……………..

Itivuttaka 89 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 89

Bị ba pháp sai lầm chế ngự, Devadatta chịu định mệnh khổ đau không thể tránh khỏi.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, bị ba pháp sai lầm chế ngự, tâm của Devadatta bị lấn át, ông ta chịu định mệnh khổ đau không thể tránh khỏi, bị đọa xuống địa ngục trong một đại kiếp trái đất. Là ba pháp sai lầm nào?

Bị dục vọng xấu ác chế ngự, tâm của ông ta bị lấn át, Devadatta bị định mệnh khổ đau không thể tránh khỏi, bị đọa xuống địa ngục trong suốt một đại kiếp trái đất. Bị tình bạn với những kẻ ác chế ngự, tâm của ông ta bị lấn át, Devadatta chịu định mệnh khổ đau không thể tránh khỏi, bị đọa xuống địa ngục trong một đại kiếp trái đất. Và, vì còn cần phải tu học thêm nữa nhưng ông ta đã dừng lại giữa chừng nơi thần thông thuần thục, là một mức độ thành tựu đặc biệt nhưng vẫn còn thấp hơn (việc giải thoát).

Bị ba pháp sai lầm này chế ngự, tâm của ông ta bị lấn át, Devadatta chịu định mệnh khổ đau không thể tránh khỏi, bị đọa xuống địa ngục trong một đại kiếp trái đất.”

Nguyện cho đừng có ai trên thế gian này đi tái sinh với lòng tham ác. Hãy biết rằng, với lòng tham ác đó, số phận của người ấy cũng giống như số phận của tất cả những kẻ có lòng tham ác. Tôi đã nghe kể về Devadatta, người được coi là trí tuệ, an tĩnh, danh dự rạng ngời,  trong 1 lúc vì bất cẩn mê lầm đã xúc phạm Đức Phật và rơi xuống địa ngục bốn cửa đáng sợ là  Avīci, địa ngục vô gián.

Ai mưu hại bậc thánh nhân thanh tịnh, chưa từng làm điều ác: thì điều ác đó sẽ quay trở lại với chính người mưu hại, tâm trí kẻ ấy bị tha hóa, bất kính. Ai nghĩ đến việc làm ô nhiễm đại dương bằng một bình thuốc độc thì sẽ không thành công, vì khối lượng nước rất lớn trong đại dương. Cũng vậy, khi ai đó lăng mạ Đức Phật, Đấng chính trực, có tâm an lạc, thì sự lăng mạ không thể tác động đến Ngài.

Một người khôn ngoan nên kết bạn, nên giao du với một người như Đức Phật, Đấng mà một vị Tỳ kheo có thể noi theo con đường của Ngài để đạt đến sự chấm dứt khổ đau và phiền não.

Ghi chú

1. Devadatta, một trong những người anh em họ của Đức Phật, đã âm mưu chiếm đoạt Tăng đoàn và cuối cùng gây ra sự chia rẽ Tăng đoàn. Câu chuyện của ông được kể trong Cv VII. Xem thêm §18.

“Thành tựu đặc biệt ở mức độ thấp hơn” của ông là khả năng thần thông thuần thục.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti89.html

……………………

Dec 31, 2025

Kinh Itivuttaka 88  Kinh Phật Thuyết Như Vậy 88

Ba vết nhơ (cấu uế) trong tâm.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba vết nhơ (cấu uế) trong tâm, là quân giặc bên trong, là kẻ thù bên trong, là sát nhân bên trong, là đối thủ bên trong. Là ba vết nhơ nào?

Tham lam là một vết nhơ bên trong, là quân giặc bên trong, là kẻ thù bên trong, là sát nhân bên trong, là đối thủ bên trong. Sân hận, Si mê là vết nhơ bên trong, là quân giặc bên trong, là kẻ thù bên trong, là sát nhân bên trong, là đối thủ bên trong.

Đây là ba vết nhơ bên trong, quân giặc bên trong , kẻ thù bên trong, sát nhân bên trong, đối thủ bên trong.”

Tham lam gây hại. Tham lam kích động tâm trí. Mọi người không nhận ra đó là một mối nguy hiểm sinh ra từ bên trong. Một người khi tham lam thì không còn an lạc hạnh phúc; khi tham lam, người ấy không thấy được Chánh Pháp. Bị tham lam chế ngự, người đó ở trong bóng tối, mù quáng. Còn khi một người từ bỏ tham lam, không còn cảm thấy tham lam đối với những gì đáng để tham lam, thì tham lam sẽ biến mất khỏi người đó, như giọt nước rơi khỏi lá sen.

Sân hận gây hại. Sân hận kích động tâm trí. Mọi người không nhận ra đó là mối nguy hiểm sinh ra từ bên trong. Một người khi sân hận thì không còn an lạc hạnh phúc; khi sân hận, người ấy không thấy được Chánh Pháp. Bị sân hận chế ngự, người đó ở trong bóng tối, mù quáng. Còn khi một người từ bỏ sân hận, không còn cảm thấy sân hận đối với những điều đáng sân hận, thì sân hận sẽ biến mất khỏi người đó, như lá cọ rụng cuống.

Si mê gây hại. Si mê kích động tâm trí. Mọi người không nhận ra đó là mối nguy hiểm sinh ra từ bên trong. Một người khi si mê thì không còn an lạc hạnh phúc; khi si mê, người ấy không thấy được Chánh Pháp. Bị si mê chế ngự, người đó ở trong bóng tối, mù quáng. Còn khi một người từ bỏ si mê, không còn cảm thấy si mê đối với những điều đáng si mê, thì si mê sẽ biến mất khỏi người đó – như khi mặt trời mọc thì bóng tối tan biến.

Xem thêm: MN 5

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti88.html

………………

Itivuttaka 87 - Kinh Phật Thuyết Như Vậy 87

Ba loại tư duy bất thiện; ba loại tư duy thiện.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại tư duy bất thiện sinh ra mù quáng, thiếu tầm nhìn, thiếu hiểu biết, làm mất trí sáng suốt, gây phiền não và không có lợi cho việc Giải Thoát. Ba loại đó là gì? Tư duy tham đắm (trong các dục)… Tư duy sân hận… Tư duy gây hại sinh ra mù quáng, thiếu tầm nhìn, thiếu hiểu biết, làm mất trí sáng suốt, gây phiền não và không có lợi cho việc Giải Thoát. Đây là ba loại tư duy bất thiện sinh ra mù quáng, thiếu tầm nhìn, thiếu hiểu biết, làm mất trí sáng suốt, gây phiền não và không có lợi cho việc Giải Thoát.

 “Có ba loại tư duy thiện sinh ra sự không mù quáng, giúp có tầm nhìn, sinh ra trí tuệ, nuôi dưỡng trí sáng suốt,  không gây phiền não và có lợi cho việc Giải Thoát. Ba loại đó là gì?

Tư duy thấm đẫm sự từ bỏ… Tư duy thấm đẫm sự không ác ý…Tư duy thấm đẫm sự vô hại sinh ra sự không mù quáng, có tầm nhìn, sinh ra trí tuệ, nuôi dưỡng trí sáng suốt, không gây phiền não, và có lợi cho sự Giải thoát. Đây là ba loại tư duy thiện sinh ra sự không mù quáng, có tầm nhìn, sinh ra trí tuệ, nuôi dưỡng trí sáng suốt, không gây phiền não, và có lợi cho sự Giải thoát.”

Ba tư duy thiện thì nên suy nghĩ, ba tư duy bất thiện thì nên loại bỏ. Bất cứ ai làm lắng dịu những suy nghĩ và các đánh giá, thì như mưa làm lắng dịu đám mây bụi, nhờ nhận thức với tư duy được lắng dịu, người ấy sẽ đạt được trạng thái bình an ngay tại đây.

Xem thêm: MN 19; MN 20; §110

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti87.html

………………

Itivuttaka 86 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 86

Thực hành Chánh pháp theo đúng Chánh pháp.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, về việc một Tỳ kheo thực hành Chánh pháp theo đúng Chánh pháp, vị ấy thực hành như sau đây thì mới gọi là thực hành Chánh pháp theo đúng Chánh pháp. Khi nói, vị ấy nói Chánh pháp chứ không nói điều phi Chánh pháp. Khi suy nghĩ, Tỳ kheo suy nghĩ theo Chánh pháp chứ không nghĩ về điều phi Chánh pháp. Khi tránh được cả hai điều này, Tỳ kheo giữ được sự bình thản, hài lòng, chánh niệm, tỉnh thức.”

Vị Tỳ kheo an trú trong Chánh pháp, hoan hỷ trong Chánh pháp, suy niệm Chánh pháp, nghĩ nhớ đến Chánh pháp, thì không bị lạc đường khỏi Chánh pháp chân chính(1). Dù đi, đứng, ngồi hay nằm, tâm vị ấy được kiềm chế bên trong, vị Tỳ kheo đạt được sự bình an.

Ghi chú

1. Câu này trong Kinh Pháp Cú Dhp 364.

Xem thêm: SN 12:67

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti86.html

…………………

Kinh Itivuttaka 85 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 85

Phần thưởng cho việc tập trung vào sự ô uế nơi của thân thể (quán bất tịnh), thiết lập chánh niệm về hơi thở (quán hơi thở), và tập trung vào tính hay thay đổi của vạn vật (quán vô thường).

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỷ-kheo, hãy tập trung vào sự ô uế trong thân thể (quán bất tịnh). Hãy thiết lập chánh niệm về hơi thở trong tâm trí mình (quán hơi thở). Hãy tập trung vào tính vô thường của vạn vật (quán vô thường). Đối với người tập trung vào sự ô uế của thân thể (quán bất tịnh), sự ám ảnh đam mê về cái đẹp sẽ bị loại bỏ. Đối với người có chánh niệm về hơi thở vào ra (quán hơi thở), xem đó là ưu tiên hàng đầu trong tâm mình thì những ý nghĩ và khuynh hướng phiền nhiễu bên ngoài sẽ không còn tồn tại. Đối với người tập trung vào tính vô thường của vạn vật (quán vô thường), vô minh sẽ bị loại bỏ, trí tuệ sáng suốt sẽ phát sinh.”

Tập trung quán những điều ô uế nơi thân, chú tâm vào, quán hơi thở vào ra, thấy được bình an trước mọi sự vật vô thường hay thay đổi, vị ấy luôn luôn nhiệt thành: Vị ấy là vị Tỳ kheo đã nhìn thấy đúng đắn. Từ đó, vị ấy được giải thoát. Một bậc thầy về tri kiến, trí tuệ trực tiếp, an lạc, vị ấy là một bậc Thánh đã vượt qua mọi ràng buộc.

Xem thêm: SN 8:4

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti85.html

…………………

Itivuttaka 84 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 84

Ba vị xuất hiện vì lợi ích của thế gian.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, ba vị này xuất hiện trên thế gian vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự an lạc, lợi ích, hạnh phúc của chúng sinh, cả loài người và chư thiên. Là ba vị nào?

 “Là trường hợp một vị Như Lai xuất hiện trong thế gian, bậc Giác Ngộ cách xứng đáng và đúng đắn, hoàn hảo trong tri thức và hành vi sáng suốt, viên mãn, am hiểu về vũ trụ, bậc thầy vô song trong việc huấn luyện những người có thể dạy dỗ, bậc thầy của chúng sinh gồm người và trời, bậc Giác Ngộ, bậc đầy đủ phước báu.

Ngài dạy Chánh Pháp đáng ngưỡng mộ ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Ngài công bố  đời sống thánh thiện cả về chi tiết lẫn bản chất, hoàn toàn hoàn hảo, thanh tịnh vượt trội. Đây là vị đầu tiên xuất hiện trên thế giới vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng dành cho thế gian, vì sự an lành, lợi ích, hạnh phúc của tất cả chúng sinh, người và trời.

 “Kế đến là vị đệ tử của vị Thầy ấy là người xứng đáng, những phiền não của người ấy đã chấm dứt, người ấy đã đạt đến sự viên mãn, đã hoàn thành nhiệm vụ, đã trút bỏ gánh nặng, đã đạt được mục tiêu chân chính, đã hoàn toàn phá hủy xiềng xích của sự tái sinh, và người ấy đã được giải thoát nhờ tri thức đúng đắn. Người ấy giảng dạy Chánh Pháp đáng ngưỡng mộ ở phần đầu, phần giữa, phần cuối.

Người ấy tuyên bố đời sống thánh thiện cả về chi tiết lẫn bản chất, hoàn toàn hoàn hảo, thanh tịnh vượt trội. Đây là vị thứ hai xuất hiện trên thế gian vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian – vì sự an lạc, lợi ích, hạnh phúc của chúng sinh, cả người và trời.

 “Kế đến là vị đệ tử của vị Thầy ấy là người tu tập theo Chánh Pháp, (1) uyên bác, đã hình thành những thói quen và thực hành [tốt]. Người ấy cũng giảng dạy Chánh Pháp đáng ngưỡng mộ ở phần đầu, phần giữa, phần cuối.

Vị ấy rao giảng đời sống thánh thiện cả về chi tiết lẫn bản chất, hoàn toàn hoàn hảo, thanh tịnh tuyệt đối. Đây là vị thứ ba xuất hiện trên thế gian vì lợi ích của nhiều người, hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian – vì sự an lạc, lợi ích, hạnh phúc của chúng sinh, cả người và trời.

 “Đây là ba dạng người xuất hiện trên thế gian vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự an lạc, lợi ích, hạnh phúc của chúng sinh cả người và trời.”

Đức Phật, bậc Đại Hiền Triết, là vị đứng đầu thế gian; theo sau là vị đệ tử với tâm an nhiên (Arahant); và sau đó là bậc uyên bác (bậc Thánh nhưng không phải Arahant) tu theo Chánh Pháp để tu tập, đã hình thành những thói quen và thực hành tốt lành. Ba dạng người này, đứng đầu trong số chúng sinh, cả người và trời, soi sáng, rao giảng Chánh pháp, mở ra cánh cửa dẫn đến sự Bất Tử, giải thoát nhiều người khỏi xiềng xích.

Những ai đi theo con đường được Đức Phật vô song dạy dỗ kỹ lưỡng sẽ chấm dứt khổ đau ngay tại đây, họ là những người lắng nghe thông điệp của bậc Giác Ngộ.

Ghi chú

1. Sekkho pāṭipado. Cụm từ này cũng xuất hiện trong MN 53, chú giải của phần này nói rằng cụm từ này không phải là hai từ riêng biệt, mà là một từ ghép có nghĩa là “người theo sekha-paṭipadā”: nói cách khác, là một bậc Thánh nhưng chưa trở thành Arahant.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti84.html

…………………

Dec 30, 2025

Itivuttaka 83

Năm điềm báo xuất hiện khi một vị thiên sắp qua đời và sự khích lệ mà các vị thiên khác khuyên vào thời điểm đó.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy:

 “Này các Tỷ-kheo, khi một vị thiên sắp qua đời, có năm điềm báo xuất hiện: vòng hoa khô héo, quần áo bẩn thỉu, mồ hôi chảy ra từ nách, thân thể uể oải, không còn vui thích nơi chỗ ngồi của vị ấy. Chư thiên biết rằng ‘ Vị thiên này qua đời’ nên khuyến khích vị ấy bằng ba câu nói: ‘Thưa ngài, khi rời khỏi đây, hãy đi đến một cõi an lành. Khi đã đi đến cõi an lành, hãy đạt được điều tốt cần đạt được. Khi đạt được điều tốt cần đạt được, hãy an trú vững vàng.’”

Khi được dạy như vậy, một vị Tỳ kheo đã thưa với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, ý chư thiên là gì khi nói ‘đi đến cõi an lành’, ‘đạt được điều tốt cần đạt được’ và ‘an trú vững vàng?"

" Này các Tỳ Kheo (1),  chư thiên nói ‘đi đến cõi an lành’ là đi đến cõi người. Chư thiên nói  ‘đạt được điều tốt cần đạt được’ là sau khi trở thành một con người, hãy có niềm tin vào Chánh Pháp & Giới Luật do Như Lai thuyết giảng. Chư thiên nói ‘an trú vững vàng’ nghĩa là hãy làm cho niềm tin đó được an trụ trong một gốc rễ, vững chắc, mạnh mẽ, không bị phá hủy bởi bất kỳ Bà-la-môn hay kẻ tu hành; chư thiên, Ma vương, Phạm thiên; hay bất kỳ ai khác trên  đời.”

Khi một vị thiên qua đời do hết thọ mạng, ba âm thanh vang lên , là sự khuyến khích của chư thiên.

‘Thưa ngài, hãy đi từ đây đến một nơi tốt đẹp, đến sống với con người. Khi trở thành một con người, hãy đạt được niềm tin vô song vào Chánh Pháp. Niềm tin của ngài vào Chánh Pháp được khéo dạy, sẽ được ổn định, bám rễ, được vững vàng, không bị phá hủy chừng nào ngài còn sống.

Từ bỏ thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, và bất cứ điều thiếu sót nào khác; sau khi đã thực hiện thân làm thiện, miệng nói lời thiện và tâm nghĩ thiện với tấm lòng vô hạn, không có sự nắm giữ, chiếm đoạt, sau khi đã tạo được nhiều công đức làm nền tảng cho sự tái sinh trở lại nơi cõi trời qua việc bố thí, giúp những chúng sinh khác sống trong Chánh Pháp và đời sống thánh thiện.'

Với sự thông cảm này, khi chư thiên biết một vị thiên sắp qua đời, họ khuyến khích vị ấy: ‘Ngài hãy quay lại, hãy tái sinh trở lại cõi trời nhiều lần nữa nhé.’

Lưu ý

1. Ấn bản tiếng Thái ghi là ‘bhikkhave’. Các bản tiếng Miến Điện và Sri Lanka ghi là bhikkhu, “nhà sư”.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti83.html

………………

Itivuttaka 82 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 82

Ba trường hợp chư thiên lên tiếng vui mừng trước hành vi của con người.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  ba âm thanh thiêng liêng này vang lên giữa chư thiên vào những dịp thích hợp. Là ba âm thanh nào? Khi một đệ tử của bậc Thánh cạo bỏ râu tóc, đắp y màu vàng đất, quyết định xuất gia, sống không gia đình, vào lúc đó, âm thanh thần thánh vang lên giữa chư thiên: ' Vị đệ tử của bậc Thánh này đã quyết tâm chiến đấu với Ma vương.' Đây là trường hợp đầu tiên âm thanh thần thánh vang lên giữa chư thiên vào những dịp thích hợp.

 “Khi vị đệ tử của các bậc thánh sống tận tâm phát triển đôi cánh giác ngộ(1) gồm bảy [bộ] phẩm chất, vào dịp đó, âm thanh thần thánh vang lên giữa chư thiên: ‘Đệ tử của các bậc thánh này đang chiến đấu với Ma vương.’ Đây là âm thanh thần thánh thứ hai vang lên giữa chư thiên vào những dịp thích hợp.

 “Khi vị đệ tử của các bậc thánh, qua việc chấm dứt các lậu hoặc, nhập và an trú trong xả ly lậu giác và tuệ giải thoát, trực tiếp biết và nhận ra điều đó nơi chính mình ngay trong hiện tại, vào lúc đó, âm thanh thần thánh vang lên giữa chư thiên: ‘ Vị đệ tử của các bậc thánh này, đã thắng trận, hiện đang dẫn đầu trận chiến.’ Đây là âm thanh thần thánh thứ ba vang lên giữa các chư thiên vào những dịp thích hợp.

 “Đây là ba âm thanh thần thánh vang lên giữa chư thiên vào những dịp thích hợp.”

Khi thấy vị ấy, đệ tử của Đấng Tự Tỉnh Giác, đã thắng trận, ngay cả chư thiên cũng tỏ lòng kính trọng đối với bậc vĩ đại, hoàn toàn trưởng thành này.

 “Kính ngưỡng ngài, hỡi bậc thuần chủng, ngài đã giành được chiến thắng khó đạt được, đánh bại đội quân Tử thần, không bị cản trở trong sự giải thoát.”

Vì vậy, chư thiên tỏ lòng tôn kính vị đã đạt đến mục tiêu của trái tim, vì họ thấy ở vị ấy không còn phương tiện(2) nào có thể khiến vị ấy bị Thần Chết thống trị.

Ghi chú

1. Đôi cánh giác ngộ là bốn niệm xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn lực xứ, năm căn, năm lực, bảy Giác Chi, và Bát Thánh Đạo.

2. Trong ấn bản Sri Lanka ghi là ‘na passanti’. Ấn bản tiếng Thái ghi là namassanti, “họ bày tỏ lòng tôn kính,” điều này vô nghĩa.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti82.html

…………………

Itivuttaka 81 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 81

Sự nguy hiểm khi để tâm bị chi phối bởi việc nhận được hoặc không nhận được cúng dường.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta  đã thấy các chúng sinh bị chi phối bởi việc nhận cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy có chúng sinh bị chi phối do không nhận được đồ cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy các chúng sinh bị chi phối cả khi nhận được và không nhận được cúng dường, tâm họ choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục.

 “Không phải do nghe điều này từ một vị Sa-môn hay Bà-la-môn khác mà Ta nói: ‘Ta đã thấy những chúng sinh bị chi phối bởi sự cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy có chúng sinh bị chi phối do không nhận được cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy những chúng sinh bị chi phối cả khi nhận được và không nhận được cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, vào lúc thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục.’

“Thay vào đó, chính Ta biết, thấy, tự mình quan sát nên Ta nói: ‘Ta đã thấy các chúng sinh bị chi phối bởi sự cúng dường, tâm trí họ choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy có chúng sinh bị chi phối do không nhận được cúng dường, tâm trí họ bị choáng ngợp, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục. Ta đã thấy những chúng sinh bị chi phối cả khi nhận được và không nhận cúng dường, tâm họ bị choáng ngợp, vào lúc thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sinh vào cõi khổ, cõi dữ, đọa xứ, địa ngục.’”

Cả khi có nhận được vật cúng dường hay không, định của vị ấy không dao động; vị ấy duy trì chánh niệm: vị ấy liên tục chìm đắm trong thiền jhāna, tinh tế trong chánh kiến và thấy được rõ ràng, tận hưởng việc chấm dứt bám chấp, vị ấy được gọi là người chính trực.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti81.html

…………………….

Itivuttaka 80 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 80

Ba loại suy nghĩ bất thiện.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại suy nghĩ bất thiện này. Là ba loại nào? Suy nghĩ liên quan đến việc không muốn bị khinh thường (1), suy nghĩ liên quan đến lợi ích, cúng dường, tôn vinh; suy nghĩ liên quan đến lòng cảm thông đối với người khác (2) Đó là ba loại suy nghĩ bất thiện."

Bị trói buộc bởi những việc như: không muốn bị coi thường; muốn được lợi, cúng dường, kính trọng; vui mừng với việc có bạn đồng tu, đồng hành: người ấy còn lâu mới kết thúc xiềng xích.

Còn bất cứ vị nào đã buông bỏ con trai, gia súc, hôn nhân, tình thân: vị Tỳ Kheo ấy có khả năng đạt đến sự tự tỉnh giác cao nhất.

Ghi chú

1. Xem AN 3:102.

2. Theo Chú Giải, điều này chỉ cho khuynh hướng của một vị Tỳ Kheo quá thân thiết với cư sĩ, quá dễ bị ảnh hưởng bởi sự thăng trầm trong vận mệnh của  người cư sỹ, “vui khi họ vui, buồn khi họ buồn, tự mình bận rộn với công việc của người cư sỹ.”

Xem thêm: SN 17:5; SN 17:8; Thig 5:6

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti80.html

………………..

Itivuttaka 79 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 79

Ba điều dẫn đến sự thoái lui của một Tỳ Kheo trong quá trình tu tập.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, ba điều này dẫn đến sự thoái lui của một Tỷ-kheo đang tu tập. Là ba điều nào? Trường hợp một Tỷ-kheo đang tu tập vui thích hoạt động, hoan hỷ trong các hoạt động, tận hưởng các hoạt động. Vị ấy vui thích khi nói chuyện, hoan hỷ trong việc nói chuyện, tận hưởng việc nói chuyện. Vị ấy thích ngủ, hoan hỷ với việc ngủ, tận hưởng giấc ngủ. Đây là ba điều dẫn đến sự sa ngã của một tu sĩ trong quá trình tu tập.

 “Ba điều này đưa đến sự không thoái lui của một Tỳ Kheo đang tu tập. Là ba điều nào? Trường hợp một Tỳ Kheo đang tu tập không vui thích khi hoạt động, không hoan hỷ trong hoạt động, không tận hưởng trong hoạt động của mình. Người ấy không thích nói chuyện, không hoan hỷ khi nói chuyện, không tận hưởng việc nói chuyện. Người ấy không thích ngủ, không hoan hỷ với việc ngủ, không tận hưởng giấc ngủ. Đây là ba điều đưa đến sự không thoái lui của một Tỳ Kheo đang tu tập.”

Thích hoạt động, thích nói chuyện, thích ngủ, và bồn chồn: một Tỳ Kheo như vậy không có khả năng chạm tới sự tự tỉnh giác cao nhất.

Vì vậy, vị ấy phải là người có ít bổn phận, ít lười biếng, không bồn chồn.

Một Tỳ Kheo như vậy có khả năng đạt đến sự tự tỉnh giác cao nhất.

Lưu ý

1. Hoạt động: là các công việc thuộc nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như công việc xây dựng, may y, v.v. Xem SN 7:17 và Thig 13:2.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti79.html

……………….

Dec 29, 2025

Kinh Itivuttaka 78 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 78

Những kẻ giống nhau sẽ thu hút nhau. Chính theo bản chất là thấp kém hay cao thượng mà chúng sinh tụ họp và giao du với nhau.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, chính theo bản chất mà chúng sinh tụ họp và giao du với nhau. Chúng sinh có bản chất thấp kém tụ họp và giao du với chúng sinh có bản chất thấp kém. Chúng sinh có bản chất cao thượng tụ họp và giao du với chúng sinh có bản chất cao thượng.

Trong quá khứ, chính theo bản chất mà chúng sinh tụ họp và giao du với nhau… Trong tương lai, chính theo bản chất mà chúng sinh sẽ tụ họp và giao du với nhau… Và hiện nay, chính theo bản chất mà chúng sinh tụ họp và giao du với nhau.

Chúng sinh có bản chất thấp kém tụ họp và giao du với chúng sinh có bản chất thấp kém. Chúng sinh có bản chất cao thượng tụ họp và giao du với chúng sinh có bản chất cao thượng.”

Bụi rậm sinh ra từ sự giao du sẽ bị loại bỏ bởi sự không giao du.

Cũng như người ngồi trên một tấm ván gỗ nhỏ sẽ chìm xuống biển cả mênh mông, ngay cả người sống đúng đắn cũng sẽ sa ngã nếu giao du với kẻ lười biếng. Vì vậy, hãy tránh xa những kẻ lười biếng, những người thiếu kiên trì.

Hãy sống với những người cao quý, họ sống ẩn dật, kiên định, đắm chìm trong thiền định, lòng kiên trì của họ luôn được khơi dậy: là những người khôn ngoan.

Xem thêm: SN 45:2

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti78.html

…………………..

Itivuttaka 77 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 77

Thân xác này sẽ tan rã; tâm thức sẽ tan biến; mọi sự nắm giữ đều không ổn định, gây khổ đau và sẽ thay đổi.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, thân xác này sẽ tan rã; tâm thức sẽ tan biến; mọi sự nắm giữ, đạt được đều không ổn định, gây khổ đau, và sẽ thay đổi.”

Khi hiểu được thân xác sẽ tan rã, tâm thức sẽ tan biến, thấy được sự nguy hiểm trong sự nắm giữ, thì các thầy đã vượt qua được sinh tử.

Đạt được sự bình an tối thượng, các thầy chờ đợi thời cơ (viên tịch giải thoát), giữ tâm thanh thản.

Xem thêm: Thag 11; Thag 14:1

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti77.html

………………..

Itivuttaka 76  -  Kinh Phật Thuyết Như Vậy 76

Nhờ mong ước ba hình thức hạnh phúc mà người khôn ngoan giữ gìn đức hạnh.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, nhờ mong ước có được ba hình thức hạnh phúc này mà người khôn ngoan sẽ giữ gìn đức hạnh. Là ba hình thức nào? [Do nghĩ rằng,] ‘Mong cho lời khen ngợi đến với tôi,’ người khôn ngoan sẽ giữ gìn đức hạnh của mình. [Do nghĩ rằng,] ‘Mong cho sự giàu có đến với tôi,’ người khôn ngoan sẽ giữ gìn đức hạnh của mình. [Do nghĩ rằng,] ‘Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, mong cho tôi được tái sinh nơi nhàn cảnh, nơi cõi trời,’ người khôn ngoan sẽ giữ gìn đức hạnh của mình. Nhờ mong ước ba hình thức hạnh phúc này mà người khôn ngoan sẽ giữ gìn đức hạnh”.

Người trí tuệ sẽ giữ gìn đức hạnh của mình nhờ mong ước ba hình thức hạnh phúc: được khen ngợi; được giàu có; và sau khi chết, được hưởng hạnh phúc nơi cõi trời.

Ngay cả khi các thầy không làm điều xấu ác nhưng lại tìm kiếm người làm điều xấu ác, các thầy bị nghi ngờ là người xấu ác. Tiếng xấu của các thầy càng thêm lớn. Loại người mà các thầy kết bạn, loại người mà các thầy tìm kiếm, thì chính các thầy cũng trở thành loại người đó, vì các thầy chung sống với loại người đó.

Người mà các thầy giao du, người giao du với các thầy, người mà các thầy giao du qua lại,  giống như một mũi tên tẩm độc làm ô nhiễm cả ống đựng tên. Cho nên vì sợ bị ô nhiễm, người giác ngộ sẽ không kết bạn với người xấu xa.

Một người dùng cỏ kusa để gói cá ươn thì cỏ ấy sẽ có mùi tanh: cũng vậy nếu các thầy tìm kiếm những kẻ ngu dốt. Còn một người dùng lá cây để gói bột hương thì lá cây có mùi thơm: cũng vậy nếu các thầy tìm kiếm người giác ngộ. Vì vậy, khi biết kết cục của chính mình giống như chiếc lá gói, các thầy không nên tìm kiếm những người không tốt.

Người khôn ngoan sẽ giao du với những người tốt. Những người không tốt sẽ dẫn các thầy đến địa ngục. Người tốt giúp các thầy đến được đích đến tốt đẹp.

Xem thêm: AN 8:54; AN 9:1; Ud 4:1

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti76.html

……………………

Itivuttaka 75 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 75

Có ba loại người: một loại như mây không mưa, một loại như mưa nhỏ và một loại như mưa lớn khắp nơi.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, trên đời có ba loại người. Là ba loại nào? Một loại như mây không mưa, một loại như mưa nhỏ, và một loại như mưa lớn khắp nơi.

 “Người như mây không mưa là như thế nào? Là người không bố thí thức ăn, nước uống, quần áo, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc mỡ, giường, nơi ở, hay đèn cho bất cứ ai: không cho các vị tu tập hay Bà la môn (tức bậc Arahant), không cho bất kỳ người khốn khổ, người vô gia cư hay người ăn xin nào. Đó chính là người như mây không mưa.”

 “Người như đám mưa nhỏ là như thế nào? Là người có ban phát thức ăn, đồ uống, quần áo, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc mỡ, giường, nơi ở và ánh sáng cho một số nhà tu hành và Bà la môn (tức là Bậc Arahant), cho một số người khốn khổ, vô gia cư và ăn xin, nhưng không ban phát cho tất cả. Đó chính là người như đám mưa nhỏ.

“Người như đám mưa lớn khắp nơi là như thế nào? Là người ban phát thức ăn, đồ uống, quần áo, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc mỡ, giường, nơi ở và ánh sáng cho tất cả các nhà tu hành và Bà la môn (tức bậc Arahant), cho tất cả những người khốn khổ, vô gia cư và ăn xin. Đó chính là người như đám mưa lớn khắp nơi.

 “Đây là ba loại người có trên thế giới này.” Người không chia sẻ những gì mình có được: thức ăn, đồ uống, sự nuôi dưỡng cho các nhà tu hành, Bà la môn, người khốn khổ hay người vô gia cư.” Người thấp hèn nhất trong loài người ấy được ví như đám mây không mưa. Còn người với người này thì không cho, với người khác thì có cho: bậc trí gọi người ấy là đám mưa nhỏ.

Người đáp ứng mọi lời thỉnh cầu, cảm thông với mọi chúng sinh, vui thích bố thí: “Hãy cho họ! Hãy cho!” người ấy nói. Người ấy như một đám mây vang dội, sấm sét trút mưa, đổ đầy nước, làm ướt đẫm các cao nguyên và khe núi. Sau khi tích lũy được của cải một cách chính đáng nhờ trí của mình, người ấy cũng ban phát đầy đủ thức ăn và đồ uống cho những người lâm vào cảnh vô gia cư khiến họ hài lòng.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti75.html

…………………..

Kinh Itivuttaka 74 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 74

Ba loại con trai và con gái: loại sinh ra cao quý hơn, loại sinh ra ngang bằng và loại sinh ra thấp kém hơn cha mẹ .

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, trên đời có ba loại con trai và con gái. Là ba loại nào? Một loại sinh ra cao quý hơn, một loại sinh ra ngang bằng và một loại sinh ra thấp kém hơn cha mẹ.

 “Vậy con trai hay con gái sinh ra cao quý hơn cha mẹ là như thế nào? Đó là trường hợp cha mẹ của người con trai hay con gái ấy không quy y Phật, không quy y Phật pháp, không quy y Tăng đoàn. Họ không kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu gây mất kiểm soát. Họ có bản chất vô đạo đức và xấu xa. Tuy nhiên, con trai hay con gái của họ lại quy y Phật, quy y Phật pháp, quy y Tăng đoàn. Người đó kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và kiêng uống các loại rượu gây mất kiểm soát. Người đó sống có nguyên tắc và bản chất đáng ngưỡng mộ. Đó được gọi là người sinh ra cao quý hơn cha mẹ.

 “Còn con trai hay con gái sinh ra ngang bằng với cha mẹ là như thế nào? Có trường hợp cha mẹ của người con trai hoặc con gái đó quy y Phật, quy y Phật pháp, quy y Tăng đoàn. Họ kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu gây mất kiểm soát. Họ sống có nguyên tắc và đáng kính trọng. Con trai hoặc con gái của họ cũng quy y Phật, quy y Phật pháp, quy y Tăng đoàn. Cũng kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu gây mất kiểm soát. Người con đó sống có nguyên tắc và đáng kính trọng. Đây được gọi là con trai hay con gái sinh ra ngang bằng với cha mẹ.

 “Còn con trai hay con gái sinh  ra thấp kém hơn cha mẹ là như thế nào? Có trường hợp cha mẹ của người con trai hoặc con gái đó quy y Phật, quy y Phật pháp, quy y Tăng đoàn. Họ kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu gây mất kiểm soát. Họ sống có nguyên tắc và bản chất đáng ngưỡng mộ. Tuy nhiên, con trai hoặc con gái của họ không quy y Phật, không quy y Phật pháp, không quy y Tăng đoàn. Con họ không kiêng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu gây mất kiểm soát. Con họ sống vô nguyên tắc và xấu xa về bản chất. Điều này được gọi là con trai hoặc con gái sinh ra thấp kém hơn cha mẹ.”

Người khôn ngoan hy vọng con cái có đời sống cao hơn hoặc ngang bằng chứ không phải con cái thấp kém hơn, làm kẻ phá hoại gia đình. Những đứa con này trong thế gian, là những người cư sĩ hoàn hảo về đức hạnh, niềm tin; hào phóng, không keo kiệt – tỏa sáng trong bất kỳ cuộc tụ họp nào như mặt trăng thoát khỏi mây che.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti74.html

…………………..

Dec 28, 2025

Itivuttaka 73 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 73

Cõi Vô Sắc an yên hơn cõi Sắc; sự Diệt tắt (Nibbana) an yên hơn cõi Vô Sắc.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, các cõi Vô Sắc an yên hơn các cõi Sắc giới; sự Diệt tắt (Nibbana) an yên hơn các cõi Vô Sắc.”

Những chúng sinh hướng về cõi Sắc giới, và những chúng sinh đang ở trong cõi Vô sắc, mà không biết về Nibbana, sẽ lại tái sinh.

Còn người hiểu biết về cõi Sắc, không nương tựa vào cõi Vô Sắc, những người đã giải thoát trong Nibbana là những người đã bỏ lại cái chết phía sau.Vị ấy đã chạm vào thuộc tính bất tử không bị ràng buộc, đã từ bỏ sự ràng buộc, không còn phiền não,

Đức Phật Chánh Giác đã dạy về trạng thái không còn khổ đau, không còn cấu uế bụi trần như vậy.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti73.html

…………………….

Itivuttaka 72 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 72

Ba thuộc tính của giải thoát: thoát khỏi Dục giới, thoát khỏi Sắc giới, và thoát khỏi mọi duyên.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba thuộc tính của sự giải thoát. Là ba thuộc tính nào? Giải thoát khỏi cõi Dục giới: là xuất ly, từ bỏ(1). Giải thoát khỏi Sắc giới: chính là Vô Sắc Giới. Và giải thoát khỏi mọi duyên, thoát khỏi đây chính là sự Diệt tắt, Nibbana. Đó là ba thuộc tính của giải thoát.”

Giải thoát khỏi Dục giới và vượt qua cõi Sắc giới – luôn luôn nhiệt thành – chạm đến sự tĩnh lặng của mọi duyên: vị ấy là một Tỳ kheo đã thấy đúng.

Từ đó vị ấy được giải thoát. Một bậc thầy về tri kiến trực tiếp, an lạc, vị ấy là một bậc hiền triết đã vượt qua mọi trói buộc (kiết sử).

Ghi chú

1. Từ bỏ, xuất ly ở đây có nghĩa là cấp độ đầu tiên của thiền định, Sơ thiền, đạt được khi một người tách biệt khỏi dục vọng và những phẩm chất tâm bất thiện. Về cõi Vô sắc và sự Diệt Tắt, xem chú thích ở §51. Xem thêm AN 5:200.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti72.html

…………….

Itivuttaka 71 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 71

Đức Phật thuật lại rằng Ngài đã tận mắt chứng kiến ​​các chúng sinh được tái sinh vào những cõi tốt lành tương ứng với chánh kiến ​​và thiện nghiệp của họ.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta đã thấy những chúng sinh có thân làm việc tốt, lời nói tốt và tâm nghĩ tốt; không phỉ báng, chửi mắng bậc thánh, có chánh kiến ​​và hành động theo chánh kiến ​​– khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã tái sinh ở cõi tốt lành, cõi trời.

Không phải do nghe từ một vị Tỳ kheo hay Bà la môn khác mà Ta nói với các thầy rằng Ta đã thấy những chúng sinh có thân làm việc tốt, lời nói tốt và tâm nghĩ tốt; không phỉ báng, chửi mắng bậc thánh, có chánh kiến ​​và hành động theo chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã tái sinh ở cõi tốt lành, cõi trời.

Chính là do đã biết, đã thấy, đã nhận ra điều đó mà Ta nói với các thầy rằng Ta đã thấy những chúng sinh có thân làm việc tốt, lời nói tốt và tâm nghĩ tốt; không phỉ báng, chửi mắng bậc thánh, có chánh kiến ​​và hành động theo chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã tái sinh ở cõi tốt lành, cõi trời.”

Với tâm trí hướng thiện, lời nói chân chánh, thân làm việc chân chánh: một người có nhiều sự tu học trong kiếp này, một người làm công đức ở kiếp sống gần như không đáng kể này, khi thân hoại mạng chung, tinh thần sáng suốt, sẽ tái sinh ở cõi trời.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti71.html

………………..

Itivuttaka 70 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 70

Đức Phật thuật lại rằng Ngài đã tận mắt chứng kiến ​​các chúng sinh tái sinh ở các cõi khổ đau tương ứng với tà kiến ​​và ác nghiệp của họ.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta đã thấy các chúng sinh có những hành vi sai trái nơi thân, lời nói và tâm; những kẻ phỉ báng, chửi mắng các bậc thánh, có tà kiến ​​và hành động do ảnh hưởng của tà kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã tái sinh ở cõi khổ, cõi xấu, cõi thấp hèn, địa ngục.

Không phải do nghe từ một vị Tỳ kheo hay Bà la môn khác mà Ta nói với các thầy rằng Ta đã thấy những chúng sinh có những hành vi sai trái nơi thân, lời nói và tâm; những kẻ phỉ báng, chửi mắng các bậc thánh, có tà kiến ​​và hành động do ảnh hưởng của tà kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, đã tái sinh ở cõi khổ, cõi xấu, cõi thấp hèn, địa ngục.

Chính là do đã biết, đã thấy, đã nhận ra điều đó mà Ta nói với các thầy rằng Ta đã thấy những chúng sinh có những hành vi sai trái nơi thân, lời nói và tâm… những kẻ phỉ báng, chửi mắng bậc thánh nhân, có tà kiến và hành động do ảnh hưởng của tà kiến, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ tái sinh ở một cõi khổ, cõi xấu, cõi thấp hèn, địa ngục.”

Với tâm nghĩ sai, lời nói sai, thân hành động sai: trong kiếp này, người không lo tu học, một kẻ làm điều ác ở kiếp sống hầu như không có gì đáng kể này, khi thân hoại mạng chung, tâm trí u mê, sẽ tái sinh ở địa ngục.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti70.html

……………………

Itivuttaka 69 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 69

Từ bỏ Tham lam, Sân hận và Si mê giống như vượt qua những hiểm nguy nơi biển cả.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, bất cứ ai, Tỳ kheo hay Tỳ Kheo Ni, mà không từ bỏ tham lam, không từ bỏ sân hận và không từ bỏ si mê, là người chưa vượt qua được biển cả với những con sóng, bão táp, xoáy nước, những kẻ vây hãm và ma quỷ. Bất cứ ai – Tỳ kheo hay Tỳ Kheo Ni – đã từ bỏ tham lam, từ bỏ sân hận và từ bỏ si mê, là người đã vượt qua biển cả với những con sóng, bão táp, xoáy nước, những kẻ vây hãm và ma quỷ. Sau khi vượt qua, sau khi đến được bờ bên kia, người đó đứng trên vùng đất cao, là một Bà la môn (tức là Arahant).”

Người nào mà tham lam, sân hận và si mê đã tan biến, thì đã vượt qua biển cả với những kẻ vây hãm, ma quỷ, những con sóng nguy hiểm rất khó vượt qua.

Thoát khỏi sự ràng buộc, vượt qua mọi gánh nặng, từ bỏ sinh tử, người ấy từ bỏ đau khổ, không cần phải trải qua thêm bất kỳ sự tái sinh nào nữa.

Ta nói cho các Thầy biết, sau khi đạt được mục tiêu, người ấy trở nên vô định, đã đánh bại Thần Chết.

Ghi chú

1. Xem §109.

2. Xem phần Kỹ năng đặt câu hỏi, Phụ lục Bốn.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti69.html

………………

Dec 28, 2025

Itivuttaka 68 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 68

Người nào từ bỏ tham lam, sân hận và si mê thì được giải thoát khỏi quyền lực của Māra.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, bất cứ ai không từ bỏ tham lam, không từ bỏ sân hận, không từ bỏ si mê đều là người đi theo Māra, đã rơi vào quyền lực của Māra. Ác quỷ ấy có thể làm gì tùy thích với người đó. Còn bất cứ ai từ bỏ tham lam, từ bỏ sân hận, từ bỏ si mê là người không đi theo Māra, đã thoát khỏi quyền lực của Māra. Với người này, Ác quỷ ấy không thể làm gì tùy thích.”

Bất cứ ai tham lam, sân hận và si mê đã tan biến, là người có tâm an nhiên, sẽ trở thành vị Phạm Thiên, bậc Giác Ngộ, bậc Như Lai Tathāgata, người mà sợ hãi và thù hận không còn nữa là người đã từ bỏ tất cả.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti68.html

…………………..

Itivuttaka 67 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 67

Ba loại trí tuệ: trí tuệ nơi thân, nơi lời nói và nơi tâm/tinh thần.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại trí tuệ. Là ba loại nào? Trí tuệ nơi thân, nơi lời nói, nơi tâm/tinh thần. Đó là ba loại trí tuệ.”

Một bậc hiền trí nơi thân, một bậc hiền trí trong lời nói, một bậc hiền trí trong tâm, thanh tịnh: một bậc hiền trí hoàn hảo là người đã được gột rửa khỏi điều ác.

Xem thêm: AN 3:123; Sn 1:12

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti67.html

……………………

Itivuttaka 66 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 66

Ba loại thanh tịnh: nơi thân, nơi lời nói và nơi tâm.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại thanh tịnh. Là ba loại nào? Thanh tịnh nơi thân, thanh tịnh nơi lời nói, thanh tịnh nơi tâm. Đó là ba loại thanh tịnh.”

Thanh tịnh thân, thanh tịnh lời nói, thanh tịnh tâm, không ô uế, người nào thanh tịnh, hoàn hảo trong sự thanh tịnh, là người đã từ bỏ tất cả.

Xem thêm: MN 24; AN 3:122

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti66.html

………………

Itivuttaka 65 - Kinh Phật Thuyết Như Vậy 65

Ba loại hành vi tốt.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại hành vi tốt, thiện. Là ba loại nào? Hành vi tốt nơi thân, nơi lời nói, nơi tâm. Đó là ba loại hành vi tốt, thiện.”

Từ bỏ những hành vi bất thiện  nơi thân, nơi lời nói, nơi tâm, và những sai lỗi khác, không làm những điều bất thiện, làm nhiều điều thiện, khi thân hoại mạng chung, người có trí tuệ sẽ tái sinh ở cõi trời.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti65.html

…………………….

Itivuttaka 64 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 64

Ba loại hành vi sai trái

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại hành vi sai trái. Là ba loại nào? Sai trái nơi thân, nơi lời nói, nơi tâm. (1) Đây là ba loại hành vi bất thiện, sai trái.”

Do làm điều sai trái nơi thân, nơi lời nói, nơi tâm, hoặc bất cứ sai lỗi  nào khác, không làm điều thiện, làm nhiều điều ác, khi thân hoại mạng chung, kẻ không sáng suốt sẽ tái sinh nơi địa ngục.

Ghi chú

1. Xem ghi chú ở §30.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti64.html

……………..

Itivuttaka 63 -  Kinh Phật Thuyết Như Vậy 63

Ba thời và tầm quan trọng của việc thấu hiểu các dấu hiệu của quá khứ, hiện tại, tương lai.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba thời. Là ba thời nào? Quá khứ, hiện tại, tương lai, Đó là ba thời.”

Nhận thức theo quá khứ, hiện tại, tương lai, chúng sinh dựa vào (các dấu hiệu) quá khứ, hiện tại, tương lai. Không hiểu đúng về (các dấu hiệu) quá khứ, hiện tại, tương lai, họ rơi vào xiềng xích của sinh tử.

Còn khi hiểu rõ (các dấu hiệu của) quá khứ, hiện tại, tương lai, người ấy không diễn giải ý nghĩa của một dấu hiệu (tức không chú trọng vào quá khứ, hiện tại hay tương lai). Đạt được giải thoát nơi tâm, trạng thái an lạc vô song, hiểu rõ về dấu hiệu của ba thời, (thì họ) an lạc, hoan hỷ trong trạng thái an lạc, sáng suốt, vị đạt được trí tuệ sử dụng quá khứ , hiện tại, tương lai nhưng không bị phân loại theo quá khứ, hiện tại, tương lai.

Lưu ý

1. Thoạt nhìn, các câu ở phần sau có vẻ không liên quan nhiều đến phần đầu giới thiệu. Tuy nhiên, nếu xem xét chúng trong bối cảnh của MN 2 (xem chú thích ở §16), mối quan hệ giữa chúng trở nên rõ ràng: người nào hiểu đúng về khái niệm quá khứ, hiện tại và tương lai thì không tự định nghĩa bản thân theo quá khứ, hiện tại, vị lai, và do đó không bám víu vào bất kỳ ý thức nào về bản thân theo quá khứ, hiện tại, tương lai. Khi không bám víu, người đó được giải thoát khỏi sinh tử.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti63.html

……………..

Dec 26, 2025

Itivuttaka 62 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 62

Những thành tựu cao quý được đo bằng ba năng lực.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba năng lực. Là ba năng lực nào? Năng lực ‘Tôi sắp biết điều chưa được biết trọn vẹn’, năng lực tri kiến cuối cùng, năng lực của người đã biết trọn vẹn. Đó là ba năng lực.” (1)

Đối với một người tu tập (Bậc Hữu Học) trên con đường ngay thẳng: trước hết, trí tuệ về sự chấm dứt (Nibbana); sau đó, ngay lập tức, tri kiến; sau đó, từ sự diệt trừ các xiềng xích (kiết sử) – vị ấy trở nên  – có trí tuệ, tri kiến của một người được giải thoát, người ấy là ‘Như vậy’ (2): ‘Sự giải thoát của tôi không do ai tạo ra.’

Một người hoàn thiện các năng lực này, an lạc, hoan hỷ trong trạng thái an lạc, mang thân xác cuối cùng của mình, đã chiến thắng Māra cùng với cỗ xe của hắn. (3)

Ghi chú

1. Theo Chú giải, năng lực đầu tiên trong số này tương ứng với thành tựu cao quý đầu tiên, Thánh Đạo Nhập Lưu; năng lực thứ hai, là sáu thành tựu tiếp theo, từ Thánh Quả Nhập Lưu đến Thánh Đạo Arahant; và năng lực thứ ba, với thành tựu cao nhất, quả vị Arahant. Phần văn xuôi của Itivuttaka này được lặp lại ở AN 3:86 và §102.

2. Such (tādin): Bậc ‘Như vậy’ xem ghi chú ở §44.

3. Akuppā. Thuật ngữ này đôi khi được dịch là “không thể lay chuyển, bất động”, nhưng nghĩa đen là “không bị khiêu khích, 0 do ai tạo ra”. Rõ ràng là nó đề cập đến lý thuyết dhātu, hay các thuộc tính cơ bản của các sự kiện vật lý hoặc tâm lý trong tự nhiên. Theo lý thuyết này, các thuộc tính vật lý gồm bốn: đất (rắn), nước, lửa và gió (chuyển động).

Ba trong số đó – nước, lửa và gió – có khả năng hoạt động. Khi chúng bị kích động, bồn chồn hoặc khiêu khích – thuật ngữ Pali ở đây, pakuppati, cũng được sử dụng ở cấp độ tâm lý, nơi nó có nghĩa là tức giận hoặc khó chịu – chúng hoạt động như nguyên nhân cơ bản cho hoạt động tự nhiên. Khi sự khiêu khích, kích ứng kết thúc, hoạt động tương ứng sẽ lắng xuống.

Mặc dù §44 liệt kê hai thuộc tính niết bàn, nhưng hai thuộc tính này khác biệt ở chỗ trải nghiệm niết bàn không phải do sự khiêu khích chúng gây ra. Bởi vì sự giải thoát thực sự không phải do sự khiêu khích của bất cứ điều gì gây ra, không do ai tạo – một sự thật được biết ngay sau khi trải nghiệm – nên nó không thể thay đổi.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti62.html

………………….

Itivuttaka 61 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 61

Ba con mắt: con mắt xác thịt nơi thân, con mắt thần thánh (thiên nhãn) và con mắt trí tuệ (tuệ nhãn)

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  có ba con mắt. Là ba con mắt nào? Con mắt xác thịt nơi thân, con mắt thần thánh (thiên nhãn), và con mắt trí tuệ (tuệ nhãn). Đó là ba con mắt.”

Con mắt xác thịt nơi thân, con mắt thần thánh (thiên nhãn), con mắt trí tuệ vô song (tuệ nhãn): ba con mắt này đã được Bậc Siêu Việt dạy.

Sự xuất hiện của con mắt xác thịt nơi thân là con đường dẫn đến con mắt thần thánh (thiên nhãn). Khi tri kiến xuất hiện, là con mắt trí tuệ (tuệ nhãn) vô song: ai đạt được tuệ nhãn này sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau và phiền não.

Ghi chú

1. Để biết mô tả về những gì được nhìn thấy bằng con mắt thần thánh (thiên nhãn), xem DN 2.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti61.html

………………

Itivuttaka 60 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 60

Ba yếu tố cho việc làm thiện (Ba mảnh đất để gieo trồng việc thiện).

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba yếu tố cho việc làm thiện. Là ba yếu tố nào? Làm thiện được tạo nên từ bố thí, làm thiện được tạo nên từ giới đức, và làm thiện được tạo nên từ sự phát triển [thiền định]. Đó là ba yếu tố cho việc làm thiện.”

Việc tu tập những việc làm thiện mang lại lợi ích tối thượng của hạnh phúc, phát triển lòng rộng lượng bố thí, một đời sống hài hòa (nhờ giới đức), một tâm từ ái (nhờ thiền định). Phát triển ba điều này mang lại hạnh phúc, người khôn ngoan sẽ tái sinh trong một thế giới hạnh phúc thuần khiết.

Xem thêm: SN 3:4, SN 3:17, SN 3:20, SN 3:25; §22

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti60.html

…………………….

Itivuttaka 59 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 59

Ba phẩm chất giúp vượt khỏi cõi Māra (Dục Giới).

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, người nào có ba phẩm chất này thì vượt khỏi cõi Māra (Dục Giới) và tỏa sáng như mặt trời. Ba phẩm chất đó là gì? Đó là người có giới đức của bậc Arahant, có Định của bậc Arahant, có Tuệ của bậc Arahant, là bậc cao hơn Thánh Hữu Học. Người nào có ba phẩm chất này thì vượt khỏi cõi Māra (Dục Giới) và tỏa sáng như mặt trời.”

Giới, Định, Tuệ: người nào có những phẩm chất này được phát triển tốt thì vượt khỏi cõi Dục Giới của Māra và tỏa sáng như mặt trời.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti59.html

………………….

Itivuttaka 58 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 58

Ba loại tham ái.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại tham ái này. Là ba loại nào? Tham ái năm dục, tham ái sự tái sinh, tham ái sự không tái sinh (đoạn kiến). Đó là ba loại tham ái.”

Bị ràng buộc bởi tham ái, tâm trí bị mê hoặc bởi sự tái sinh và không tái sinh (đoạn kiến), họ bị ràng buộc bởi Māra. Họ là những người không thoát khỏi sự trói buộc, là những chúng sinh lang thang, hướng đến sinh tử trong luân hồi.

Còn những người đã từ bỏ tham ái, thoát khỏi tham ái tái sinh và không tái sinh (đoạn kiến), đạt đến sự chấm dứt các phiền não. Dù vẫn còn ở trong thế gian, vị ấy đã vượt lên trên thế gian.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti58.html

………………….

Dec 25, 2025

Itivuttaka 57 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 57

Ba phiền não.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại phiền não. Là ba phiền não nào? Phiền não của năm dục, phiền não của các cõi tái sinh, phiền não của vô minh. Đó là ba phiền não.”

Nơi vị ấy, phiền não về năm dục chấm dứt, vô minh tan biến, phiền não về các cõi tái sinh cũng cạn kiệt: vị ấy hoàn toàn thoát khỏi, không còn vướng bận, mang thân xác cuối cùng của mình, đã chiến thắng Māra và cỗ xe của hắn.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti57.html

………….

Itivuttaka 56

Itivuttaka 56 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 56

Ba phiền não.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại phiền não. Là ba phiền não nào? Phiền não của năm dục, phiền não của các cõi tái sinh, phiền não của vô minh. Đó là ba phiền não.”

Tập ​​trung, tỉnh thức, chánh niệm, đệ tử của Đức Phật biết rõ các phiền não, cách phiền não hình thành như thế nào, nơi chúng chấm dứt, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.

Với sự chấm dứt của phiền não, một vị Tỳ kheo không còn tham ái sẽ hoàn toàn được giải thoát.

Xem thêm: MN 4; MN 9

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti56.html

…………….

Itivuttaka 55 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 55

Ba sự tìm kiếm: tìm kiếm năm dục, tìm kiếm cõi tái sinh, tìm kiếm đời sống thánh thiện.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba sự tìm kiếm này. Là ba sự tìm kiếm nào? Tìm kiếm năm dục, tìm kiếm cõi tái sinh, tìm kiếm đời sống thánh thiện. Đó là ba sự tìm kiếm.”

Tìm kiếm năm dục, tìm kiếm cõi tái sinh, cùng với tìm kiếm đời sống thánh thiện, tức bám chấp, xem “chân lý là như vậy” dựa trên sự tích lũy các quan điểm tà kiến:

thông qua việc từ bỏ các tìm kiếm và xóa bỏ các quan điểm tà kiến của một người vô cảm với năm dục và được giải thoát nhờ sự chấm dứt tham ái, thông qua sự chấm dứt các tìm kiếm, vị Tỳ kheo không còn hoang mang, không còn ham muốn.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti55.html

………………

Itivuttaka 54 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 54

Ba sự tìm kiếm: tìm kiếm năm dục, tìm kiếm cõi tái sinh, tìm kiếm đời sống thánh thiện.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba sự tìm kiếm này. Là ba sự tìm kiếm nào? Tìm kiếm năm dục, tìm kiếm cõi tái sinh, tìm kiếm đời sống thánh thiện. Đó là ba sự tìm kiếm.”

Tập ​​trung, tỉnh thức, chánh niệm, đệ tử của Đức Phật biết rõ các sự tìm kiếm, cách thức các sự tìm kiếm diễn ra, nơi chúng chấm dứt, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.

Với sự chấm dứt tìm kiếm, một vị Tỳ kheo không còn tham lam sẽ hoàn toàn được giải thoát.

Xem thêm: MN 26; AN 3:39; AN 4:252

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti54.html

…………………..

Itivuttaka 53 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 53

Cách nhìn nhận ba loại cảm giác.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba loại cảm giác này. Là ba loại nào? Cảm giác vui sướng, cảm giác đau khổ, cảm giác không vui không khổ. Cảm giác vui sướng nên được xem là phiền não. Cảm giác đau khổ nên được xem là mũi tên. Cảm giác không vui không khổ nên được xem là không ổn định.

Khi một Tỳ kheo thấy cảm giác vui sướng là phiền não, cảm giác đau khổ là mũi tên, và cảm giác không vui không khổ là không ổn định, thì người ấy được gọi là Tỳ kheo cao quý, người đã thấy đúng, người đã cắt đứt tham ái, phá hủy xiềng xích (kiết sử), và từ sự đột phá đúng đắn về kiêu ngạo, người ấy đã chấm dứt khổ đau và phiền não.”

Ai thấy vui sướng là phiền não, thấy đau khổ là mũi tên, thấy bình an, không vui không khổ là không ổn định: người ấy là Tỳ kheo đã thấy đúng bản chất của sự vật. Từ đó người ấy được giải thoát. Khi là một bậc thầy về tri kiến trực tiếp, an nhiên, vị ấy là một hiền triết vượt lên trên mọi ràng buộc.

Xem thêm: MN 44; SN 36:4; SN 36:6

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti53.html

…………………

Dec 24. 2025

Nhóm 3

Itivuttaka 52 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 52

Ba cảm thọ.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba cảm thọ. Là ba cảm thọ nào? Lạc thọ, khổ thọ, không khổ không lạc. Đó là ba cảm thọ.”

Tập ​​trung, tỉnh thức, chánh niệm, đệ tử của Đức Phật biết rõ, phân biệt được các cảm thọ, cách chúng xuất hiện, khi chúng chấm dứt, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.

Với sự chấm dứt của các cảm thọ, một vị Tỳ kheo không còn tham ái sẽ hoàn toàn được giải thoát.

Xem thêm: Sn 3:12; Dhp 92–93

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti52.html

…………………

Itivuttaka 51 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 51

Ba trạng thái: Sắc, Vô Sắc,  Lặng Tắt (Nibbana).

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có ba trạng thái này. Ba trạng thái nào? Là Sắc, Vô sắc, Lặng Tắt (Nibbana). Đó là ba trạng thái.”

Hiểu trạng thái sắc, không giữ lập trường trong vô sắc, những ai đạt được Nibbana giải thoát là những người đã bỏ lại cái chết phía sau.

Khi đã đạt đến trạng thái bất tử không vướng mắc, đã từ bỏ vướng mắc, không lậu hoặc phiền não, Đức Phật Chánh Giác dạy về trạng thái không phiền não, không cấu uế, bụi trần.

Ghi Chú

1. Cõi Sắc tương ứng với thân nơi bốn tầng thiền (Sơ, Nhị, Tam Tứ Thiền). Cõi Vô Sắc không có thân sắc dựa trên tầng thiền thứ 4: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Nibbana là trải nghiệm về sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau.

Xem thêm: §§72-73

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti51.html

…………….

Itivuttaka 50 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 50

Ba gốc rễ của bất thiện.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  có ba gốc rễ của điều bất thiện. Là ba gốc rễ nào? Tham lam là gốc rễ của điều bất thiện, sân hận là gốc rễ của điều bất thiện, si mê là gốc rễ điều bất thiện. Đó là ba gốc rễ  của điều bất thiện.”

Tham lam, sân hận, si mê sinh ra từ người có tâm ác và quay lại phá huỷ người có tâm ác như quả của cây tre làm hại cây tre

Xem thêm: MN 9; Dhp 164

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti50.html

…………………


Comments

Popular posts from this blog