ITIVUTTAKA 4 


Jan 05, 2026

Itivuttaka 112 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 112

Những phẩm chất giúp Đức Phật được gọi là Như Lai.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Như Lai đã giác ngộ hoàn toàn về thế gian (1), đã lìa bỏ thế gian, đã giác ngộ hoàn toàn về nguồn gốc của thế gian, đã từ bỏ nguồn gốc của thế gian, đã giác ngộ hoàn toàn về sự chấm dứt  của thế gian, đã nhận ra sự chấm dứt của thế gian, đã giác ngộ hoàn toàn về con đường dẫn đến sự chấm dứt của thế gian, con đường dẫn đấn sự chấm dứt của thế gian đã được Như Lai phát triển. (2)

 “Bất cứ điều gì trong thế gian này mà chư thiên, Māra và Phạm Thiên, trong thế hệ này với các vị tu tập và Bà La Môn, vua chúa và dân thường, được nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm kiếm, suy ngẫm bởi trí tuệ, đều đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ. Vì vậy, ngài được gọi là Như Lai Tathāgata.

 “Từ đêm Như Lai hoàn toàn giác ngộ Chánh Đẳng Giác Vô Thượng cho đến đêm ngài viên tịch Niết Bàn hoàn toàn giải thoát,(3) tất cả những gì Như Lai đã nói, đã giải thích đều đúng như thật (tatha) không khác. Vì vậy, ngài được gọi là Như Lai.

“Như Lai là người làm theo (tathā) những gì Ngài dạy, Ngài dạy những gì Ngài làm. Bởi vì vậy nên Ngài được gọi là Như Lai.

“Trong thế giới này với các vị thần, Māra và Phạm Thiên, trong thế hệ này với các vị tu tập và Bà la môn, vua chúa và dân thường, Như Lai là Bậc chinh phục bất khả chiến bại, Bậc thấu suốt toàn diện, Bậc nắm giữ quyền năng.(4) Vì vậy, Ngài được gọi là Như Lai.”

Đây là ý nghĩa của những gì Đức Phật đã nói. Vì vậy, người ta nói rằng: Trực tiếp biết tất cả thế giới như nó vốn có, tách rời khỏi tất cả thế giới, vô song trong tất cả thế giới. Chinh phục tất cả trong mọi phương diện, giác ngộ, giải thoát khỏi mọi ràng buộc, Ngài chạm đến sự bình an tối thượng, không bị ràng buộc, không sợ hãi. Ngài không còn phiền não, không còn đau khổ, đã tỉnh thức, không còn nghi ngờ; đã đạt được sự chấm dứt của hành động (vô vi), được giải thoát vì không còn nắm giữ.

Ngài có phước lành, đã giác ngộ. Ngài là một con sư tử, vô song. Trong thế giới có cả chư thiên, ngài đã chuyển bánh xe Pháp - Brahma.(5) Như vậy, các vị trời và người quy y Phật tụ họp lại, kính lễ bậc vĩ nhân, bậc hoàn toàn thành thật: ‘Được thuần hóa, ngài là vị tốt nhất trong số những người được thuần hóa; bình an, ngài là bậc thấu suốt trong số những người bình an; được giải thoát, ngài là bậc tối cao trong số những người giải thoát; vượt qua, ngài là bậc đứng đầu trong số những người vượt qua bờ bên kia.’

Như vậy, họ kính lễ bậc vĩ nhân, hoàn toàn thành thật: ‘Trong thế giới này có cả chư thiên, không ai có thể so sánh với ngài.’

Đây cũng là ý nghĩa của những gì Đức Phật đã nói, tôi đã nghe như vậy.

Ghi chú

1. SN 35:82 định nghĩa “thế giới” là sáu cõi trời Dục Giới, với các cảnh, ý thức, sự tiếp xúc ở những cõi ấy và bất cứ điều gì phát sinh từ sự tiếp xúc đó, như vui, khổ, hoặc không vui không khổ.

2. Đoạn văn này, với một sự thay đổi, tương đồng với bốn chân lý cao quý: từ bỏ nguồn gốc của khổ, nhận ra Nibbana sự chấm dứt của khổ, và phát triển con đường tu tập dẫn đến Nibbana sự chấm dứt của khổ. Sự khác biệt duy nhất là trong khi bổn phận đối với khổ là thấu hiểu khổ, ở đây Như Lai đã tách rời khỏi thế gian. Xem SN 56:11.

3. Xem §44.

4. Đây là những danh xưng thường được gắn liền với Đại Phạm Thiên. Xem §22.

5. Bánh xe Brahma cũng là bánh xe Pháp Dhamma, tên của bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, được gọi như vậy vì nó chứa một “bánh xe” liệt kê tất cả mười hai (duyên?)sự kết hợp của hai biến số: bốn chân lý cao quý – khổ, nguồn gốc của khổ, Nibbana sự chấm dứt của khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ – và ba cấp độ tri kiến nơi mỗi chân lý: tri  kiến về sự thật, chân lý, tri kiến về nhiệm vụ phù hợp với sự thật, chân lý ấy, và tri kiến biết rằng nhiệm vụ đã được hoàn thành. Bánh xe này tạo thành giáo lý trung tâm nhất của Đức Phật. Itivuttaka này giống hệt với AN 4:23.

Xem thêm: MN 72; MN 140; MN 146; AN 4:24; AN 10:81; §63; Sn 5:6

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti112.html

………………..

Itivuttaka 111 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 111

Khi một người đã hoàn thiện về giới đức thì còn phải làm gì thêm nữa?

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hãy hoàn thiện về giới đức và hoàn thiện về giới luật Pāṭimokkha. Hãy sống tiết độ theo giới luật Pāṭimokkha, hoàn thiện trong hành vi và phạm vi hoạt động của mình. Hãy tu tập bản thân, sau khi đã tuân giữ các giới luật, nhận thấy nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhất , thì còn phải làm gì nữa?”

Hãy kiểm soát khi đang đi , đang đứng, đang ngồi, đang nằm, khi co duỗi tay chân, kiểm soát ở trên, xung quanh và dưới, xa đến các thế giới, vị ấy quan sát sự sinh và diệt của các hiện tượng, các uẩn: một vị Tỳ kheo sống như vậy một cách nhiệt thành, không bồn chồn, bình an, luôn luôn chánh niệm, rèn luyện sự thuần thục trong tỉnh giác và an định, vị ấy được gọi là luôn kiên định.(1)

Lưu ý

1. Itivuttaka này giống hệt với AN 4:12.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti111.html

…………….

Itivuttaka 110 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy

Ý nghĩa của lòng nhiệt thành và sự sám hối.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, nếu trong khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, hay đang nằm, vị Tỳ kheo nảy sinh ý nghĩ tham đắm trong năm dục, sân hận/ác ý, hoặc ý nghĩ làm hại mà không nhanh chóng từ bỏ, xua tan, tiêu diệt, hoặc xóa sạch ý nghĩ đó, thì vị Tỳ kheo thiếu lòng nhiệt thành và sám hối ấy được gọi là luôn biếng nhác và thiếu kiên trì.

 “Còn nếu trong khi đang đi, đang đứng, đang ngồi hoặc đang nằm, vị Tỳ kheo nảy sinh ý nghĩ tham đắm trong năm dục, sân hận/ ác ý, có ý nghĩ làm hại mà vị ấy nhanh chóng từ bỏ, xua tan, tiêu diệt và xóa sạch ý nghĩ đó, thì vị Tỳ kheo đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm với lòng nhiệt thành và sám hối ấy được gọi là người luôn quyết tâm và kiên trì.

Dù đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, bất cứ ai có ý nghĩ xấu xa liên quan đến đời sống gia đình thì không theo con đường tu học chút nào, bị mê hoặc bởi những điều ảo tưởng. Một vị Tỳ kheo như vậy không thể đạt được giác ngộ siêu việt.

Còn những ai, dù đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm vượt qua được những suy nghĩ xấu xa ấy, vui thích trong định, trong việc tĩnh lặng mọi suy nghĩ: một vị Tỳ kheo như vậy có thể đạt được giác ngộ siêu việt.

Xem thêm: MN 19; MN 20; AN 3:102; AN 4:11; AN 6:20; AN 10:51

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti110.html

…………….

Itivuttaka 109 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 109

Một ẩn dụ mở rộng về sự nguy hiểm của việc “cuốn trôi theo dòng nước”.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, giả sử có một người đang bị dòng nước của một con sông đẹp đẽ và quyến rũ cuốn trôi. Rồi một người khác có mắt sáng đứng trên bờ, khi nhìn thấy anh ta thì sẽ nói: ‘Này anh bạn, mặc dù anh đang được cuốn theo dòng nước của một con sông đẹp đẽ và quyến rũ, nhưng phía dưới kia là một vùng nước có sóng và xoáy, có ma quỷ và những kẻ bắt người.

Khi đến vùng nước đó, anh sẽ phải chịu cái chết hoặc đau khổ như chết.’ Rồi người thứ nhất khi nghe lời nói của người thứ hai, sẽ cố gắng dùng tay chân để đi ngược lại dòng chảy.

 “Ta đưa ra cho các thầy ví dụ này để minh họa ý nghĩa rằng: dòng chảy của con sông tượng trưng cho tham ái. Đẹp đẽ và quyến rũ tượng trưng cho sáu giác quan nơi thân. Vùng nước phía dưới tượng trưng cho năm xiềng xích dạng thô, thấp.(1) Những con sóng tượng trưng cho sân hận và đau khổ.

Những xoáy nước tượng trưng cho năm dây trói của năm dục. Ma quỷ và những kẻ bắt giữ người tượng trưng cho người khác giới. Đi ngược dòng tượng trưng cho sự từ bỏ (xuất gia). Nỗ lực bằng tay chân tượng trưng cho việc khơi dậy lòng kiên trì. Người có mắt sáng  đứng trên bờ tượng trưng cho Như Lai, Bậc xứng đáng và Giác Ngộ.”

Cho dù phải chịu đau đớn, các thầy cũng nên từ bỏ những mong ước về năm dục nếu muốn có được sự an toàn trong tương lai, thoát khỏi sự ràng buộc. Với trí sự phân biệt đúng đắn, với tâm được giải thoát, hãy chạm vào sự giải thoát ngay tại đây, ngay tại đó.

Một người đạt được trí tuệ, sau khi hoàn thành đời sống thánh thiện, được cho là đã đi đến tận cùng thế giới, vượt thoát ra ngoài.

Lưu ý

1. Năm xiềng xích dạng thô (hạ phần kiết sử) là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham đắm ngũ dục và sân. Xem thêm AN 7:48 và AN 10:13.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti109.html

…………………………………

Kinh Itivuttaka 108 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 108

Những vị Tỳ kheo nào là đệ tử chân chính của Đức Phật và vị nào không phải.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,   bất kỳ vị Tỳ kheo nào gian dối, ngoan cố, lắm mồm, lừa đảo, kiêu ngạo và không có định, không tập trung đều không phải là đệ tử của ta. Họ đã lìa bỏ Chánh  Pháp và Giới Luật này. Xét về Chánh  Pháp và Giới Luật này, họ không đạt được sự tăng trưởng, phát triển hay sung mãn nào cả.

 “Còn bất kỳ vị Tỳ kheo nào không gian dối, không lắm mồm, giác ngộ, dễ dạy và có định: họ là đệ tử của ta. Họ không lìa bỏ Chánh  Pháp và Giới Luật này. Xét về Chánh  Pháp và Giới Luật này, họ đạt được sự tăng trưởng, phát triển và sung mãn.

Gian dối, ngoan cố, lắm mồm, lừa đảo, kiêu ngạo, không có định, thiếu tập trung: họ không tăng trưởng trong Chánh Pháp do Đức Phật Chánh Giác giảng dạy.

Không dối trá, không lắm lời, giác ngộ, dễ dạy, có định: họ tăng trưởng trong Chánh pháp do Đức Phật Chánh Giác giảng dạy.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti108.html

……………

Jan 04, 2026

Itivuttaka 107  Kinh Phật Thuyết Như Vậy 107

Những cách thức mà các vị Tỳ kheo và cư sĩ giúp đỡ lẫn nhau.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  Bà la môn và cư sĩ giúp đỡ rất nhiều cho các thầy, vì họ cung cấp cho các thầy những nhu cầu thiết yếu như y áo, thức ăn cúng dường, chỗ ở và thuốc men khi có bệnh. Và các thầy, các vị Tỳ kheo, giúp đỡ rất nhiều cho các vị Bà la môn và cư sĩ, vì các thầy dạy cho họ Chánh pháp tốt lành đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối; vì các thầy thuyết giảng cho họ về đời sống thánh thiện cả về chi tiết lẫn bản chất, hoàn toàn trọn vẹn, thanh tịnh tuyệt đối. Bằng cách này, đời sống thánh thiện được thực hiện trong sự phụ thuộc lẫn nhau, với mục đích vượt qua cơn lũ luân hồi, nhằm chấm dứt khổ đau đúng cách.”

Cả cư sĩ và Thầy Tỳ kheo sống không nhà đều đạt được Chánh pháp chân chính trong sự phụ thuộc lẫn nhau: cùng nhau giải thoát khỏi mọi trói buộc một cách an toàn tuyệt đối. Từ những người cư sỹ, vị Tỳ Kheo sống không nhà nhận được những nhu cầu thiết yếu như y áo, chỗ ở, sự bảo vệ khỏi những tai ương, thời tiết khắc nghiệt. Còn người cư sỹ phụ thuộc vào bậc tu hành, có niềm tin vào các vị Arahant có trí tuệ cao thượng, an trú trong thiền định. Sau khi thực hành Chánh pháp ở đây, người cư sỹ tái sinh nơi nhàn cảnh, vui thích trong cõi chư thiên, họ hân hoan, tận hưởng những niềm vui cõi Dục Giới.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti107.html

…………………..

Itivuttaka 106 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 106

Cha mẹ là những vị Phạm Thiên và là những người thầy đầu tiên của con cái.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  trong gia đình mà con cái biết tôn kính cha mẹ là những gia đình sống với những vị Phạm Thiên, những vị Trời, những vị thầy đầu tiên. Những gia đình sống cùng những người xứng đáng được cấp dưỡng, tặng quà là những gia đình mà trong nhà, cha mẹ được con cái tôn kính. ‘vị Phạm Thiên’ đồng nghĩa với cha mẹ. ‘Các vị Trời đầu tiên’ đồng nghĩa với cha mẹ. ‘Các vị thầy đầu tiên’ đồng nghĩa với cha mẹ. ‘Những người xứng đáng được cấp dưỡng, tặng quà’ đồng nghĩa với cha mẹ. Tại sao lại như vậy? Cha mẹ làm rất nhiều cho con cái. Họ chăm sóc, nuôi dưỡng và sinh con ra nơi thế giới này.”

Cha mẹ, những người đầy lòng thương yêu gia đình, được gọi là vị Phạm Thiên, những người thầy đầu tiên, những người xứng đáng nhận được cấp dưỡng, quà tặng từ con cái. Vì vậy, người khôn ngoan trí tuệ sẽ tỏ lòng kính trọng, tôn kính cha mẹ bằng thức ăn và đồ uống, quần áo và chăn màn, xức dầu và tắm rửa, rửa chân cho cha mẹ. Thực hiện những việc phụng sự này cho cha mẹ, người khôn ngoan trí tuệ được ca ngợi ngay tại đời này và sau khi chết sẽ được hưởng niềm vui nơi cõi trời.

(Xem thêm: AN 2:31—32; AN 4:63)

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti106.html

………………………

Kinh Itivuttaka 105 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 105

Nơi mà lòng tham của Tỳ kheo sinh ra.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  có bốn nơi làm phát sinh lòng tham của tỳ kheo, khi bốn điều này xuất hiện thì lòng tham của vị Tỳ kheo sinh ra. Là bốn điều nào? Do y áo, do thực phẩm cúng dường, do nơi ở, do mong muốn nơi tái sinh mà lòng tham của vị tỳ kheo sinh ra. Đây là bốn nơi làm phát sinh lòng tham của vị Tỳ kheo. Do 4 điều này mà lòng tham của Tỳ kheo sinh ra.”

Với lòng tham làm bạn đồng hành, con người  sẽ lang thang rất lâu, rất lâu trong cõi luân hồi. Cả trong trạng thái con người này hay ở kiếp sống nào khác, người ấy cũng không vượt qua được sự lang thang trong cõi luân hồi. Hiểu được nhược điểm này, rằng tham ái mang lại khổ đau. Thoát khỏi tham ái, sống không bám chấp, sống chánh niệm, vị Tỳ kheo sống đời sống khất thực.

Xem thêm: AN 4:9; AN 4:28; Sn 3:12

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti105.html

……………….

Itivuttaka 104 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 104

Phần thưởng của việc kết giao với những người thực sự đáng quý, bậc Thiện Tri Thức.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo,  những Tỳ kheo nào viên mãn về đức hạnh, về định, về trí tuệ, về sự giải thoát, về tri kiến và tầm nhìn ​​về sự giải thoát; những người khuyên bảo, chỉ dạy, thúc giục, khích lệ và động viên; những người có khả năng chỉ ra Chánh Pháp đúng đắn, Ta nói cho các thầy biết, khi được nhìn thấy họ là một mối lợi lớn. Khi lắng nghe họ, đến gần họ, chăm sóc họ, hồi tưởng đến lời dạy và công hạnh của họ, noi theo họ trong tu tiến cũng được lợi lạc rất nhiều. Tại sao lại như vậy?

 “Bằng cách theo học, liên kết với những vị Tỳ kheo như vậy, chia sẻ với họ, chăm sóc họ, thì những công đức, thiền định, những điểm cần giải thoát, những tri kiến, trí tuệ và tầm nhìn về sự giải thoát chưa viên mãn sẽ viên mãn, đạt đến đỉnh cao của sự phát triển.

Những vị Tỳ kheo như vậy là những bậc thầy, những người dẫn đoàn, những người từ bỏ tranh chấp, xua tan bóng tối, tạo ra ánh sáng, tạo ra sự rạng rỡ, tạo ra sự tươi sáng, mang đến sự soi sáng. Họ là những bậc Thánh cao quý có đôi mắt nhìn thấu suốt.”

Đây là duyên, là điều kiện tạo ra niềm vui cho những người biết sống theo Chánh Pháp của các bậc Thánh cao quý, có tâm trí thanh tịnh. Họ làm sáng tỏ Chánh Pháp chân chính, soi rọi Chánh Pháp, làm cho Chánh Pháp tỏa sáng rực rỡ. Họ là những người tạo ra ánh sáng, những người giác ngộ, những người từ bỏ tranh chấp. Họ có đôi mắt nhìn thấu suốt. Sau khi nghe được lời dạy của họ với tri thức đúng đắn, ta sẽ thành người trí tuệ trực tiếp biết được sự chấm dứt của vòng luân hồi, sẽ không còn tái sinh nữa.

Xem thêm: AN 9:1

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti104.html

…………….

Itivuttaka 103 – Kinh Phật thuyết Như Vậy 103

Người nhìn thấy bốn chân lý cao quý được xem là người tu tập chân chính.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, bất kỳ vị Tỳ kheo hay Bà la môn nào không nhận biết như thật rằng ‘Đây là khổ,’ ‘Đây là nguồn gốc của khổ’, ‘Đây là sự chấm dứt khổ, Nibbana’, ‘Đây là con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt khổ’: đối với Ta, những người này không được coi là Tỳ kheo trong số các Tỳ kheo hay là Bà la môn trong số các Bà la môn. Hơn nữa, họ không đi vào và không giữ được mục tiêu của đời sống tu tập hay mục tiêu của đời sống Bà la môn, không trực tiếp biết và nhận ra mục tiêu ấy ngay tại đây và bây giờ.

 “Còn bất kỳ vị Tỳ kheo hay Bà la môn nào nhận biết như thật rằng ‘Đây là khổ,’ ‘Đây là nguồn gốc của khổ,’ ‘Đây là sự chấm dứt khổ, Nibbana’, ‘Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ đau’: đối với Ta, những vị tu học và Bà la môn này được xem là những vị Tỳ kheo xuất sắc nhất và là Bà la môn xuất sắc nhất. Hơn nữa, họ đi vào (thiền định) và an trú trong mục tiêu của đời sống tu học và mục tiêu của đời sống Bà la môn, sau khi đã trực tiếp biết và nhận ra điều đó ngay trong hiện tại.”

Những người không nhận biết được đau khổ, phiền não, sự xuất hiện của đau khổ, phiền não, và nơi nó hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết, những người không biết con đường, cách thức để làm lắng dịu đau khổ, phiền não: thấp kém trong tỉnh giác giải thoát và trí tuệ  phân biệt giải thoát, thì không có khả năng chấm dứt, họ hướng đến sinh tử luân hồi.

Còn những người nhận biết được đau khổ, phiền não, sự xuất hiện của đau khổ, phiền não, và nơi nó hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết, những người nhận biết được con đường, cách thức để làm lắng dịu đau khổ, phiền não: hoàn thiện tỉnh giác giải thoát và trí tuệ  phân biệt giải thoát, thì có khả năng chấm dứt, họ không còn hướng đến sinh tử luân hồi.

Xem thêm: SN 56:22; Sn 3:12

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti103.html

………………….

Jan 03, 2026

Phẩm 4 Pháp

Itivuttaka 102 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 102

Đối với người biết và thấy được bốn chân lý cao quý thì sẽ chấm dứt khổ (dukkha).

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta nói cho các thầy biết, đối với người biết và thấy thì sẽ chấm dứt khổ, chứ không phải đối với người không biết và không thấy. Đối với người biết và thấy điều gì thì sẽ chấm dứt khổ?

Đối với người biết và thấy rằng ‘Đây là khổ,’ thì sẽ chấm dứt khổ. Đối với người biết và thấy rằng ‘Đây là nguồn gốc của khổ,’ thì sẽ chấm dứt khổ. Đối với người biết và thấy rằng ‘Đây là Nibbana sự chấm dứt khổ,’ thì sẽ chấm dứt khổ. Đối với người biết và thấy rằng ‘Đây là con đường tu tập dẫn đến Nibbana sự chấm dứt khổ,’ thì sẽ chấm dứt khổ. Đối với người biết và thấy theo cách này thì sẽ chấm dứt khổ.”

Đối với bậc Hữu Học, tu tập trên con đường chính đạo, trước hết, vị ấy có tri thức về sự chấm dứt; rồi, đó là tri thức vô song; rồi, đó là tri thức của một người được giải thoát – tri kiến giải thoát, tuyệt đỉnh, trí tuệ biết về sự kết thúc: ‘Xiềng xích đã được phá bỏ.’

Kẻ ngu dốt lười biếng, thiếu hiểu biết chắc chắn sẽ không đạt được sự giải thoát, sự nới lỏng mọi ràng buộc.

Xem thêm: AN 3:86; §62

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti102.html

…………………

Itivuttaka 101 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 101

Bốn vật dụng thiết yếu cơ bản rất dễ đạt được và không có lỗi. Bằng lòng với chúng là một yếu tố của đời sống chiêm niệm.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, bốn điều này chẳng đáng kể gì, vừa dễ có lại vừa không có lỗi. Là bốn điều nào? Vải bỏ đi  chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi. Thức ăn bố thí chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi. Gốc cây làm nơi ở chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi. Thuốc làm từ nước tiểu hôi thối (1) chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi.

Đây là bốn điều chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi. Khi một Tỳ kheo bằng lòng với những điều chẳng đáng kể gì, vừa dễ có được lại vừa không có lỗi, thì Ta nói rằng vị ấy đã có một trong những yếu tố tạo thành đời sống chiêm niệm.”

Bằng lòng với những gì không sai lỗi, gần như không có gì, dễ dàng có được, tâm trí không phiền muộn về chỗ ở, y áo, thức ăn hay đồ uống: bốn phương không cản trở vị ấy.

Những điều này phù hợp với đời sống chiêm niệm, có nơi vị Tỳ kheo chuyên tâm và sống biết đủ.

Ghi chú

1. Thuốc là một trong những nhu cầu thiết yếu cơ bản của một vị Tỳ kheo. Có một số bất đồng về việc đây là thuốc được ngâm trong nước tiểu, hay sử dụng nước tiểu làm thuốc (như vẫn còn thực hành ở một số vùng của châu Á ngày nay).

Itivuttaka này giống hệt với AN 4:27.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti101.html

………………

Kinh Itivuttaka 100 – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 100

Đức Phật là vị thầy thuốc; các vị Tỳ kheo là người thừa kế Chánh Pháp của Ngài chứ không phải thừa kế vật chất.

Đây là lời dạy của Đức Phật, của vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Ta là một vị Bà la môn luôn luôn đáp ứng lời thỉnh cầu, rộng lượng, mang thân xác cuối cùng của Ta, một thầy thuốc và thầy phẫu thuật vô song. Các thầy là con cái của Ta, là những người con trai của Ta, sinh ra từ miệng Ta, sinh ra từ Chánh Pháp, được tạo nên bởi Chánh Pháp, là người thừa kế Chánh Pháp chứ không phải người thừa kế vật chất.

“Có hai loại bố thí: bố thí vật chất và bố thí Chánh Pháp. Trong hai loại bố thí này, bố thí Chánh Pháp là tối thượng.

 “Có hai loại chia sẻ: chia sẻ vật chất và chia sẻ Chánh Pháp. Trong hai loại chia sẻ này, chia sẻ Chánh Pháp là tối thượng.

“Có hai loại trợ giúp: trợ giúp vật chất và trợ giúp Chánh Pháp. Trong hai loại trợ giúp này, trợ giúp Chánh Pháp là tối thượng.

“Có hai loại bố thí đến tập thể, hội chúng: bố thí vật chất và bố thí Chánh Pháp. Trong hai loại bố thí này, bố thí Chánh Pháp đến tập thể, hội chúng là tối thượng.”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người đã không ngưng nghỉ, không tiếc công sức bố thí Chánh Pháp đến hội chúng, tập thể, với lòng thương xót vô biên đối với muôn chúng sinh: đối với một Bậc như vậy – Bậc cao thượng nhất trong các chúng sinh, cả người và trời, các chúng sinh đều kính cẩn đảnh lễ đối với một bậc đã vượt thoát khỏi sự tái sinh.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti100.html

………………


Comments

Popular posts from this blog