ITIVUTTAKA 2
Phẩm 2 Pháp - Kinh Phật Thuyết Như Vậy
Kinh Itivuttaka 49 - Kinh Phật Thuyết Như Vậy 49
Sự khác biệt giữa những người có
tầm nhìn với những người bám chấp vào sự ham muốn tái sinh và những người sa
vào sự ham muốn không tái sinh (đoạn kiến) là gì?
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, do 2 tà kiến này chi phối, có
những người và chư thiên bám chấp vào sự tái sinh, có những người dễ dàng bỏ
qua sự tái sinh, trong khi những người có tầm nhìn thì thấy rõ.
“Vậy con người và chư thiên bám chấp vào sự
tái sinh như thế nào? Họ tận hưởng sự tái sinh, vui thích sự tái sinh, hài lòng
với sự tái sinh. Khi Chánh pháp được giảng dạy để chấm dứt tái sinh, tâm trí của
họ không đón nhận, không an định nơi Chánh Pháp, không an trú hay quyết tâm
trong Chánh Pháp. Đó là cách của những người bám chấp.”
“Còn những người dễ dàng bỏ qua sự tái sinh
thì như thế nào? Một số người cảm thấy kinh hãi, nhục nhã và ghê tởm với chính
sự tái sinh, họ vui thích với sự không tái sinh (đoạn kiến): ‘Khi cái tôi này, vào
lúc thân hoại mạng chung, sau khi chết, diệt vong và bị hủy diệt, và không còn
tồn tại sau khi chết, đó là sự bình an, đó là sự thanh tịnh, đó là sự đủ đầy!’ Nghĩ
như vậy nên những người đoạn kiến dễ dàng bỏ qua sự tái sinh.
“Và những người có tầm nhìn thì thấy rõ như thế
nào? Vị Tỳ kheo nhìn thấy đúng bản chất của những gì đã xảy ra. Khi nhìn thấy đúng
bản chất của những gì đã xảy ra, vị ấy tu tập để từ bỏ sự mê muội với chúng, vô
cảm với chúng, chấm dứt chúng. Đây là cách những người có tầm nhìn nhìn thấy rõ.”1
Những người sau khi đã nhìn thấy đúng
bản chất của những gì đã xảy ra và nhìn thấy xa hơn nữa, vị ấy được giải thoát vì
không còn ham muốn tái sinh.
Nếu họ đã thấu hiểu bản chất của những
gì đã xảy ra, và thoát khỏi lòng tham muốn tái sinh hay đoạn kiến, các vị Tỳ
kheo sẽ không còn tái sinh nữa.
Lưu ý
1. Bài giảng này minh họa, về mặt
kỹ thuật, chức năng của sự chú tâm đúng đắn (chú tâm đến những 4 Diệu Đế giúp
ta giải thoát) được giải thích trong chú thích của §16.
SN 12:15 trình bày cùng điểm này
từ một góc nhìn khác: “Thế giới có cái nhìn phân cực, là sự tồn tại và không tồn
tại.
Còn khi người ta nhìn thấy nguồn
gốc của thế giới [= sáu giác quan và cảnh của chúng] thấy được bản chất của nó
với sự phân biệt đúng đắn, thì ‘đoạn kiến’ không xuất hiện trong tâm trí của họ.
Khi một người nhìn thấy được bản
chất của sự chấm dứt của thế giới với sự phân biệt đúng đắn, thì khái niệm “cõi
hữu, tái sinh” không còn xuất hiện trong tâm trí người đó nữa. Nhìn chung, thế
giới này bị ràng buộc bởi những chấp trước, bám chấp và định kiến.
Còn người không bị vướng mắc hay
bám víu vào những chấp trước, định kiến hay ám ảnh này; cũng không tin vào “bản
ngã của tôi”. Người đó chắc chắn rằng (tất cả) chỉ là khổ đau, khi sinh là
sinh, khi tử là tử.
Về điều này, tri thức của người
đó độc lập với người khác. Như vậy là có chánh kiến.”
Để thảo luận đầy đủ hơn về chủ đề
này, xin xem quyển The Paradox of Becoming Nghịch lý của sự tái sinh (hữu).
Xem
thêm: MN 106; AN 3:76; Sn 4:2; Sn 5:5 https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti49.html
………………………….
Itivuttaka 48 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 48
Hai loại hành vi dẫn đến địa ngục.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hai loại người này sẽ đi khổ
cảnh, bị xuống địa ngục vì không từ bỏ hành vi của mình. Hai loại người nào? Người
không sống đời sống độc thân nhưng lại giả vờ là người sống đời sống độc thân;
và người vu cáo người sống đời sống độc thân một cách hoàn hảo và thuần khiết
là không sống đời độc thân, 1 cách vô căn cứ. Đây là loại hai người sẽ bị đi khổ
cảnh, bị xuống địa ngục vì không từ bỏ hành vi của mình.”
Người mà điều không xảy ra lại khẳng
định là có, cũng như người nào đã làm rồi lại nói: ‘Tôi không làm’ thì sẽ xuống
địa ngục
Sau khi chết, ở thế giới bên kia,
cả hai loại người có hành vi thấp hèn này có kết cục như nhau. Nhiều người có
tâm tính bất thiện, không biết kiềm chế, độc ác sẽ tái sinh trong địa ngục vì
những hành vi xấu xa của họ, với chiếc áo cà sa màu vàng đất buộc quanh cổ.
Thà ăn một quả cầu sắt nóng đang
cháy rực còn hơn là ăn của cải bố thí của đất nước một cách vô nguyên tắc và vô
độ.
Ghi chú
1. Những câu thơ này thuộc Kinh
Pháp Cú 306-308.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti48.html
………..
Dec 23. 2025
Kinh Itivuttaka 47 – Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 47
Hãy tỉnh thức, chánh niệm, cảnh
giác, tập trung, nhạy bén, minh mẫn và định tĩnh. Và như vậy, vào những thời điểm
thích hợp, các thầy sẽ thấy rõ những phẩm chất tâm thiện.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo nên tỉnh thức
(gồm): chánh niệm, cảnh giác, tập trung, nhạy bén, minh mẫn và định tĩnh. Và như
vậy, vào những thời điểm thích hợp, vị ấy sẽ thấy rõ những phẩm chất tâm thiện.
Đối với một vị Tỳ kheo tỉnh thức
(gồm) – chánh niệm, cảnh giác, tập trung, nhạy bén, minh mẫn và định tĩnh, vào những
thời điểm thích hợp, sẽ thấy rõ những phẩm chất tâm thiện – có thể mong đợi một
trong hai quả vị: hoặc là giác ngộ ngay trong hiện tại (Arahant), hoặc nếu còn dư
sót bất kỳ sự bám chấp nào thì sẽ là Bậc Bất Lai.”
Những ai đang tỉnh thức, hãy lắng
nghe điều này!
Những ai đang ngủ, hãy thức dậy!
Tỉnh thức tốt hơn ngủ.
Đối với những ai đang tỉnh thức
thì không có nguy hiểm, không có sợ hãi.
Bất cứ ai tỉnh thức, chánh niệm,
cảnh giác, tập trung, nhạy bén, định tĩnh và minh mẫn, sẽ khám phá ra Chánh
Pháp vào những thời điểm thích hợp, người đó – khi đạt được sự hợp nhất
(Nibbana) – có thể phá tan bóng tối.
Vậy hãy chuyên tâm vào sự tỉnh thức.
Vị Tỳ kheo nhiệt thành – thuần thục,
đạt được thiền định, cắt đứt xiềng xích của sinh tử, chạm đến ngay đây sự tự giác ngộ khó đạt được.
Xem thêm: AN 4:37; Sn 2:10
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti47.html
…………………
Itivuttaka 46 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 46
Hãy sống với những giới luật, xem
đó như phần thưởng của mình, với trí tuệ phân biệt cao nhất, với sự buông bỏ là
bản chất, và với chánh niệm là nguyên tắc cai quản.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hãy sống với những giới luật
[với đức hạnh cao thượng, tâm trí cao thượng, và trí tuệ phân biệt cao thượng] xem
đó như phần thưởng của mình, với trí tuệ phân biệt cao nhất, với buông bỏ là bản
chất, và chánh niệm là nguyên tắc cai quản. Khi các Thầy sống với những giới luật
như phần thưởng của mình, với trí tuệ phân biệt cao nhất, với buông bỏ là bản
chất, và chánh niệm là nguyên tắc cai quản, thì có thể mong đợi một trong hai
quả vị: hoặc là giác ngộ ngay trong hiện tại (Arahant), hoặc nếu còn dư sót lại
bất kỳ sự bám chấp nào thì sẽ là Bậc Bất Lai.”
Hoàn thiện trong giới luật, không
bị sa ngã, người có trí tuệ phân biệt cao nhất thấy được sự chấm dứt, sự kết
thúc của sinh tử: Ta nói cho các thầy biết, vị hiền triết ấy mang thân xác cuối
cùng của mình, đã rũ bỏ Māra, đã vượt
qua già chết.
Vậy nên, hãy luôn luôn vui thích
trong thiền định (jhāna), tập trung, nhiệt thành, nhìn thấy sự chấm dứt, sự kết
thúc của vòng luân hồi, chinh phục Ma-ra cùng với đạo quân của hắn, các thầy Tỳ
kheo, hãy vượt qua già chết.
Ghi chú
1. Theo cách đọc trong một ấn bản
của Sri Lanka: aparihāna-dhammaṁ. Ấn bản tiếng Thái, tiếng Miến Điện và một ấn
bản khác của Sri Lanka đọc là: apahāna-dhammaṁ, “không phải chịu sự từ bỏ”, phù
hợp với nhịp điệu hơn, nhưng không đúng với ý nghĩa của câu thơ. Chú giải giải
thích cách đọc phổ biến hơn có nghĩa là “không phải chịu sự sa ngã”, nhưng
không giải thích tại sao lại như vậy.
2. Sn 3:2 xác định đạo quân của
Ma-ra là: dục vọng; bất mãn; đói khát; thèm muốn; lười biếng và uể oải; khủng bố;
bất an; đạo đức giả và cứng đầu; lợi lộc, cúng dường, danh vọng và địa vị; và
thái độ tự ca ngợi bản thân, coi thường người khác.
Xem thêm: AN 4:245; AN 10:58
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti46.html
……………………..
Itivuttaka 45 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 45
Hãy sống vui hưởng sự tách biệt
nơi vắng vẻ, vui thích trong sự tách biệt nơi vắng vẻ, tận tâm hướng đến sự an
lạc trong tâm thức, không xao lãng thiền định, có trí tuệ sáng suốt và thường
xuyên đến những ngôi nhà vắng.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hãy sống
vui hưởng sự tách biệt nơi vắng vẻ, vui thích trong sự tách biệt nơi vắng vẻ, tận
tâm hướng đến sự an lạc trong tâm thức, không xao lãng thiền định, có trí tuệ
sáng suốt và thường xuyên đến những ngôi nhà vắng.
Khi các Thầy sống vui hưởng sự
tách biệt nơi vắng vẻ, vui thích trong sự tách biệt nơi vắng vẻ, tận tâm hướng
đến sự an lạc trong tâm thức, không xao lãng thiền định, có trí tuệ sáng suốt
và thường xuyên đến những ngôi nhà vắng, thì có thể mong đợi một trong hai quả
vị này: hoặc là giác ngộ ngay trong hiện tại (Arahant), hoặc nếu còn sót lại bất
kỳ sự bám chấp nào thì sẽ là bậc Bất Lai.”
Những người có tâm trí thanh tịnh
– thuần thục, chánh niệm tỉnh thức, đắm chìm trong thiền định – thì nhìn thấy
Chánh pháp một cách rõ ràng, đúng đắn, không chú tâm đến khoái lạc nơi các giác
quan.
Vui thích trong sự chú tâm, tỉnh
thức, tĩnh lặng, nhận thấy nguy hiểm trong sự bất cẩn, họ không thể sa ngã và đang đứng ngay trước sự
Giải thoát.
Xem thêm: MN 6
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti45.html
………………..
Itivuttaka 44 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 44
Hai hình thức của sự Giải thoát:
còn nhiên liệu và không còn nhiên liệu.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có hai hình thức của sự Giải thoát. Hai hình
thức nào? Là giải thoát còn nhiên liệu, và giải thoát không còn nhiên liệu.
“Giải thoát khi còn nhiên liệu là gì? Đó là
trường hợp một Tỳ kheo là một vị Arahant, đã chấm dứt mọi phiền não, lậu hoặc,
đã đạt đến sự viên mãn, hoàn thành nhiệm vụ, buông bỏ gánh nặng, đạt được mục
tiêu thật sự, phá tan xiềng xích của sự tái sinh, và được giải thoát nhờ tri kiến
đúng đắn.
Năm giác quan của vị ấy vẫn còn,
và do chúng vẫn còn nên vị ấy cảm nhận được điều dễ chịu và khó chịu, cảm nhận
được điều hạnh phúc và khổ đau. Sự chấm dứt tham ái, sân giận và si mê của vị ấy
được gọi là giải thoát khi vẫn còn nhiên liệu. (vị Arahant vẫn còn sống)
“Vậy Giải Thoát không còn nhiên liệu là gì? Đó
là trường hợp một vị Tỳ kheo là một vị Arahant, những phiền não, lậu hoặc đã chấm
dứt, đã đạt được sự viên mãn, hoàn thành nhiệm vụ, buông bỏ gánh nặng, đạt được
mục tiêu thật sự, phá tan xiềng xích của sự tái sinh, và được giải thoát nhờ tri
kiến đúng đắn. Đối với vị ấy, tất cả những gì được cảm nhận không còn được ưa
thích, lặng tắt ngay tại đây. Điều này được gọi là Giải Thoát không còn nhiên
liệu.” (Vị Arahant viên tịch)
Hai hình thức Giải Thoát này được
tuyên bố bởi bậc có tầm nhìn, bậc độc lập, bậc Như vậy:
một hình thức giải thoát ở kiếp
này, với nhiên liệu còn lại sau khi diệt trừ [tham ái], tham ái này là kim chỉ
nam cho sự tái sinh (vị Arahant còn sống), và một hình thức giải thoát không
còn nhiên liệu, sau kiếp này, mọi sự tái sinh hoàn toàn chấm dứt. (Vị Arahant
viên tịch)
Những người biết được trạng thái Nibbana
này thì tâm của họ được giải thoát thông qua sự diệt trừ [tham ái], tham ái là
kim chỉ nam cho sự tái sinh, họ đạt được cốt lõi của Pháp, vui thích trong sự
chấm dứt, họ đã từ bỏ mọi sự tái sinh: họ, là bậc Như vậy.
Ghi chú
1. Giải thoát còn nhiên liệu
(sa-upādisesa) và Giải thoát không còn nhiên liệu (anupādisesa): Ví dụ ở đây là
ngọn lửa. Trong trường hợp thứ nhất, ngọn lửa đã tắt, nhưng than hồng vẫn còn
âm ỉ. Trong trường hợp thứ hai, ngọn lửa đã tắt hoàn toàn đến nỗi than hồng đã
nguội lạnh. “Nhiên liệu” ở đây là năm uẩn (xem phần Thuật ngữ).
Khi vị Arahant còn sống, ngài vẫn
trải nghiệm năm uẩn, nhưng chúng không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của tham ái, sân
giận hay si mê. Khi vị Arahant viên tịch, không còn bất kỳ trải nghiệm nào về uẩn
ở đây hay bất cứ nơi nào khác. Để thảo luận về điểm này, xem cuốn Tâm Như Lửa
Không Bị Ràng Buộc (The Mind Like Fire Unbound), trang 21-37.
2. Bậc Như Vậy (tādin): Một tính
từ để mô tả vị đã đạt được mục tiêu (Giác ngộ hoàn toàn). Nó chỉ ra rằng trạng
thái của người đó là không thể định nghĩa được và không chịu sự thay đổi hay ảnh
hưởng của bất kỳ điều gì.
3. Theo cách đọc trong bản tiếng
Miến Điện và bản tiếng Bồ Đào Nha: dhamma-sārādigamā khaye ratā. Bản tiếng Thái
đọc là dhamma-sārādigamakkhaye ratā – hoan hỷ trong sự kết thúc vì đã đạt được
cốt lõi của Pháp – (đạt được Nibbana rồi thì mọi Pháp đều không còn ý nghĩa gì
nữa). Xem MN 29 & MN 30.
Xem thêm: MN 140
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti44.html
…………………
Itivuttaka 43 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 43
Vì có 1 trạng thái 0 do ai tạo ra
(Nibbana) nên có con đường thoát khỏi trạng thái được tạo ra (luân hồi).
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có một trạng thái vô sinh – vô thành – vô tạo
(là Nibbana). Nếu không có trạng thái (Nibbana) ấy thì sẽ không thể có sự thoát
khỏi (luân hồi) cái sinh – cái thành – cái tạo.
Nhưng chính vì có (Nibbana) trạng
thái vô sinh – vô thành – vô tạo, nên có sự thoát khỏi (luân hồi) cái sinh –
cái tái sinh – cái tạo – cái được tạo.”
(Luân Hồi) - Cái sinh, cái thành, cái được tạo
thành, cái được tạo dựng, cái vô thường, cái được tạo dựng của sự già đi và cái
chết, một ổ bệnh tật, sự diệt vong, sự tái sinh thông qua sự nuôi dưỡng và sự dẫn
dắt [tức là sự tham muốn] – thì không an vui.
Nibbana - Sự thoát khỏi đó là
bình yên, vĩnh viễn, một trạng thái vượt ngoài suy đoán, trạng thái này không
được sinh ra, không được tạo ra, không
đau khổ, thanh khiết, trạng thái này chấm dứt những phiền não đau khổ, làm dịu
đi, làm lặng tắt những niềm hạnh phúc (ngắn ngủi) nơi cõi luân hồi.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti43.html
………………………
Dec 22, 2025
Itivuttaka 42 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 42
Lòng xấu hổ và sự sợ hãi, hối hận
trước cái xấu (tàm và uý) là 2 pháp bảo hộ thế gian.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hai phẩm chất sáng suốt này bảo vệ thế gian. Là
hai phẩm chất nào? Đó là lòng xấu hổ và sự sợ hãi, hối hận trước cái xấu (tàm và
uý). Nếu hai phẩm chất sáng suốt này không bảo vệ thế gian, thì sẽ không có sự
phân biệt “mẹ”, “dì”, “mợ, thím”, “vợ của thầy”, hay “vợ của những vị đáng kính
trọng”. Thế gian sẽ rơi vào sự dâm loạn, như cừu đực với dê, gà trống với lợn,
hay chó với chó rừng. Nhưng nhờ hai phẩm chất sáng suốt này bảo vệ thế gian,
nên mới có sự phân biệt “mẹ”, “dì”, “mợ, thím”, “vợ của thầy”, và “vợ của những
vị đáng kính trọng”.
Những người không thường xuyên biết
xấu hổ và ăn năn hối lỗi thì bị lạc khỏi gốc rễ sáng suốt, họ hướng đến sự luân hồi sinh tử.
Còn những người luôn luôn biết xấu
hổ và ăn năn hối lỗi luôn đi đúng đường, họ trưởng thành trong đời sống thánh
thiện: họ bình an, sự tái sinh của họ sẽ được chấm dứt.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti42.html
…………………..
Kinh Itivuttaka 41- Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 41
Phần thưởng của trí tuệ cao quý.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, những chúng sinh nào thiếu trí
tuệ cao quý thì thực sự bị khổ sở. Họ sống trong khổ đau ở kiếp này, phiền não,
đau khổ, và bị nung nấu tâm can, rồi khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ
có thể tái sinh khổ cảnh.
“Những chúng sinh nào có trí tuệ cao quý thì không
phải khổ. Họ sống an lạc ở kiếp này, không phiền não, không đau khổ, và không bị
nung nấu tâm can, rồi khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ có thể được
tái sinh nhàn cảnh.
Hãy nhìn thế gian này
- Kể cả các vị thiên: khi không
có trí tuệ, không biết phân biệt, khi tạo nên một cõi sống với tâm và thân, họ
tưởng rằng ‘Đây là chân lý.’
Trí tuệ, sự phân biệt tốt nhất
trên thế gian sẽ dẫn đến sự thấu suốt, biết rõ sự chấm dứt hoàn toàn việc tái sinh
và các cõi tái sinh.
Con người và các vị trời đều trân
trọng họ: những vị đã tự giác ngộ, sống có chánh niệm, mang thân xác cuối cùng
với trí tuệ an vui.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti41.html
…………………………
Kinh Itivuttaka 40 – Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 40
Vô minh dẫn đến việc không biết xấu
hổ, không biết sợ hãi, hối hận (vô tàm, vô uý).
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, vô minh đi trước rồi bất thiện
xuất hiện theo sau; không biết xấu hổ (vô tàm) và không biết sợ hãi, hối hận
(vô uý) theo sau. Trí tuệ đi trước rồi những phẩm chất thiện lành xuất hiện
theo sau; biết xấu hổ và biết sợ hãi hối hận theo sau.”
Mọi khổ cảnh trong đời này, đời
sau, đều bắt nguồn từ vô minh; đi cùng với sự tích tụ của dục vọng và tham lam.
Khi một người có dục vọng xấu xa,
không biết xấu hổ và tôn trọng, điều ác sẽ phát sinh từ đó, do đó người ấy sẽ bị
rơi vào khổ cảnh.
Vì vậy, khi tẩy trừ vô minh, dục
vọng và tham lam, một vị Tỳ kheo có trí tuệ sẽ bỏ được mọi khổ cảnh.
Ghi chú
1. Vô minh (avijjā) nghĩa là vô
minh về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt
khổ.
2. Xấu hổ, tàm (hiri) có nghĩa là
một cảm giác biết xấu hổ lành mạnh – xuất phát từ lòng tự trọng – trước ý nghĩ
làm điều ác. Sự hối hận, uý (ottappa) có nghĩa là nỗi sợ hãi về hậu quả của việc
làm điều ác.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti40.html
……………….
Kinh Itivuttaka 39 – Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 39
Hai Pháp tuần tự: thấy ác là ác,
và giải thoát khỏi ác.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, Như Lai, Bậc Tự Mình Giác Ngộ,
giảng hai pháp này theo trình tự. Là hai pháp nào? ‘Thấy ác là ác.’ Đây là pháp
thứ nhất. ‘ Sau khi thấy ác là ác, rồi chán ghét điều ác, không dính mắc vào điều
ác, sẽ được giải thoát.’ Đây là pháp thứ hai. Đây là hai pháp mà Như Lai, Bậc Tự Mình Giác Ngộ, đã giảng theo trình tự.”
Hai pháp được Đấng Như Lai, Bậc Giác
Ngộ, từ bi với muôn chúng sinh, giảng theo trình tự.
Pháp thứ nhất: thấy ác. Không
dính mắc vào cái ác.
Rồi với tâm không dính mắc, các
Thầy sẽ chấm dứt khổ đau và phiền não.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti39.html
…………………
Itivuttaka 38 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 38
Hai ý nghĩ thường xuất hiện trong
tâm Đức Phật khi Ngài tận hưởng trạng thái không ác ý và ẩn dật.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, hai dòng suy nghĩ thường xuất
hiện trong tâm Đức Như Lai, bậc đáng kính và giác ngộ chân chính: là suy nghĩ về
sự an ổn và suy nghĩ về sự ẩn dật.
“Đức Như Lai tận hưởng trạng thái không ác ý,
vui thích trong trạng thái không ác ý. Trong tâm Ngài, khi tận hưởng, vui thích trong trạng thái không
ác ý thì suy nghĩ này thường xuất hiện: ‘Nhờ hành động này, ta không làm hại ai
cả, dù là kẻ yếu hay mạnh.’
“Đức Như Lai tận hưởng trạng thái ẩn dật, vui
thích trong trạng thái ẩn dật. Trong tâm Ngài, khi tận hưởng, vui thích trong trạng thái ẩn dật,
suy nghĩ này thường xuất hiện: ‘Bất cứ điều gì bất thiện đều phải từ bỏ.’
“Vì vậy, này các Tỳ kheo, các Thầy cũng nên sống
tận hưởng trạng thái không ác ý, vui thích trong trạng thái không ác ý. Khi các
Thầy tận hưởng, vui thích trong sự không ác ý thì suy nghĩ này sẽ thường xuyên
xuất hiện: ‘Qua hành động này, chúng ta không làm hại ai cả, dù là kẻ yếu hay mạnh.’
“Các Thầy cũng nên sống tận hưởng, vui thích
trong sự ẩn dật. Khi các Thầy tận hưởng, vui thích trong sự ẩn dật thì suy nghĩ
này sẽ thường xuyên xuất hiện: ‘Điều gì là bất thiện? Điều gì chưa được từ bỏ?
Chúng ta đang từ bỏ điều gì?’”
Đối với Đức Như Lai, Bậc Giác ngộ,
vị đã chịu đựng được những điều khó chịu đựng, có hai suy nghĩ xuất hiện: sự an
ổn là suy nghĩ đầu tiên; sự ẩn dật là suy nghĩ thứ hai.
Bậc xua tan bóng tối, thoát khỏi
ô uế, bậc hiền triết vĩ đại đã vượt lên trên tất cả, đạt được thành tựu, đạt được
sự làm chủ, vượt qua các chất độc (tham sân si); bậc được giải thoát nhờ chấm dứt
tham ái: vị hiền triết ấy mang thân xác cuối cùng, đã rũ bỏ Māra, đã vượt qua sinh
tử.
Như người đứng trên mỏm đá nhìn
thấy mọi người xung quanh bên dưới, bậc hiền triết với con mắt bao quát mọi thứ,
sau khi leo lên ngọn tháp Chánh Pháp, vượt qua khổ đau, nhìn xuống những người
đang chìm trong đau buồn, bị khuất phục bởi tuổi già và cái chết.
Xem thêm: Dhp 28
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti38.html
…………………
Dec 21, 2025
Kinh Itivuttaka 37 – Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 37
Cảm giác chấn động, kinh cảm cùng
nỗ lực thích hợp mang lại sự an lạc ngay tại đây, bây giờ và dẫn đến sự chấm dứt
các lậu hoặc, phiền não.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, khi có hai điều này, một Tỳ
kheo sẽ sống an lạc ngay tại đây, bây giờ và có động lực thích hợp để chấm dứt
các lậu hoặc, phiền não. Hai điều đó là gì? Là có cảm giác chấn động, kinh cảm
đối với những điều đáng kinh cảm và nỗ lực thích hợp với sự kinh cảm chấn động ấy.
Khi có hai điều này, một Tỳ kheo sống an lạc ngay tại đây bây giờ và có nỗ lực thích
hợp để chấm dứt các lậu hoặc, phiền não.”
Cảm thấy chấn động kinh cảm ngay
tại đây bây giờ đối với những việc đáng kinh cảm, vị Tỳ kheo khôn ngoan, tài giỏi,
nhiệt thành sẽ tìm hiểu với sự sáng suốt.
Người nào sống nhiệt thành, không
bồn chồn, an lạc, tận tâm với sự tĩnh lặng của chánh niệm như vậy, sẽ đạt được
sự chấm dứt khổ đau và phiền não.
Ghi chú
1. Cảm giác chấn động, kinh cảm =
saṁvega. Các nghĩa khác của thuật ngữ này bao gồm sự kính sợ, kinh ngạc, thất vọng
và xa lánh. Trong Kinh điển Pali, cảm xúc này thường đi kèm với nỗi sợ hãi và cảm
giác cần phải thoát khỏi nguy hiểm tột cùng. Những điều cần phải thúc đẩy sự khẩn
trương là bốn trong năm suy ngẫm đầu tiên được liệt kê trong AN 5:57: “Tôi phải
chịu sự già đi, chưa thoát khỏi sự già đi. Tôi phải chịu bệnh tật, chưa thoát
khỏi bệnh tật. Tôi phải chịu sự chết chóc, chưa thoát khỏi cái chết. Tôi sẽ trở
nên khác biệt, xa lìa tất cả những gì thân yêu và hấp dẫn đối với tôi.” Sự nỗ lực
thích hợp được chỉ ra bởi suy ngẫm thứ năm: “Tôi là chủ nhân của nghiệp, người
thừa kế của nghiệp, sinh ra từ nghiệp, là bà con của nghiệp, và nghiệp làm thẩm
phán xét xử tôi. Bất cứ nghiệp gì tôi làm, dù tốt hay xấu, tôi đều sẽ nhận lãnh.”
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti37.html
…………
Itivuttaka 36 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 36
Đời sống thánh thiện được sống vì
mục đích đạt được trí tuệ thực chứng (abhiññā) và sự hiểu biết trọn vẹn.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, đời sống thánh thiện này được
sống không phải để lừa dối người khác, không phải để dụ dỗ người khác, không phải
vì phần thưởng của lợi lộc, cúng dường và cống nạp, cũng không phải với suy
nghĩ: ‘Như vậy người khác sẽ biết đến ta.’ Đời sống thánh thiện này được sống
vì mục đích đạt được trí tuệ thực chứng (abhiññā) và sự hiểu biết trọn vẹn.”
Đức Phật đã dạy rằng: một đời sống
thánh thiện mà tự Ngài đã chứng ngộ, vì mục đích đạt được trí tuệ thực chứng
(abhiññā), vì mục đích đạt được sự hiểu biết trọn vẹn, sẽ giúp đến được bến bờ
Giải Thoát.
Con đường này được theo đuổi bởi
những người có mục đích cao cả, những bậc hiền triết vĩ đại. Những ai đi theo
con đường này như Đức Phật đã dạy, lắng nghe lời dạy của Đức Phật, sẽ chấm dứt
khổ đau và phiền não.
Ghi chú
1. Trí tuệ thực chứng = abhiññā.
Kinh điển liệt kê sáu loại abhiññā (lục thông): Thần túc thông, Thiên nhĩ
thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhãn thông, và quan trọng nhất là
trí tuệ về sự kết thúc của những phiền não tinh thần - Lậu tận thông.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti36.html
.…………………
Itivuttaka 35 – Kinh Phật Thuyết Như
Vậy 35
Đời sống thánh thiện được sống vì
mục đích tiết chế và từ bỏ.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, đời sống thánh thiện này được
sống không phải để lừa dối người khác, không phải để dụ dỗ người khác, không phải
vì phần thưởng của lợi lộc, cúng dường và cống nạp, cũng không phải với suy
nghĩ: ‘Như vậy người khác sẽ biết đến ta.’ Đời sống thánh thiện này được sống
vì mục đích tiết chế và từ bỏ.”
Đức Phật đã dạy rằng: một đời sống
thánh thiện mà tự Ngài đã chứng ngộ, vì mục đích tiết chế, vì mục đích từ bỏ, sẽ
giúp đến được bến bờ Giải Thoát.
Con đường này được theo đuổi bởi
những người có mục đích cao cả, những bậc hiền triết vĩ đại. Những ai đi theo
con đường này như Đức Phật đã dạy, lắng nghe lời dạy của Đức Phật, sẽ chấm dứt
khổ đau và phiền não.
Ghi chú
1. “Tự mình Giác Ngộ ”: không bắt
nguồn từ một truyền thống cổ xưa, và không phụ thuộc vào truyền thống cổ xưa để
có thẩm quyền.
Itivuttaka này gần như giống hệt
với AN 4:25.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti35.html
…………..
Itivuttaka 34 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 34
Thiếu nhiệt thành và lòng ăn năn hối
cải khiến người ta không thể giải thoát.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, người nào không có lòng nhiệt
thành, không có lòng ăn năn hối cải thì không thể tự giác ngộ, không thể giải
thoát, không thể đạt được sự an toàn tuyệt đối khỏi xiềng xích. Người nào nhiệt
thành và biết ăn năn hối cải thì có thể tự giác ngộ, có thể giải thoát, có thể
đạt được sự an toàn tuyệt đối khỏi xiềng xích.”
Không có lòng nhiệt thành, không
có lòng ăn năn hối cải, lười biếng, thiếu kiên trì, luôn lười biếng và buồn ngủ,
vô liêm sỉ, không biết kính trọng: một Tỳ kheo như vậy không thể đạt được sự tự
giác ngộ tối thượng.
Còn bất cứ ai có chánh niệm, thuần
thục, đắm chìm trong thiền định, có lòng nhiệt thành, có sự quan tâm và chú
tâm, sẽ thoát khỏi xiềng xích của sinh tử, sẽ chạm đến sự tự giác ngộ khó đạt
được.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti34.html
……………..
Dec 20, 2025
Itivuttaka 33 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 33
Người có thói quen thiện lành và
quan điểm thiện lành thì thiên đường chờ sẵn ngay trong kiếp này.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, người nào có hai điều này
thì sẽ được ở nơi cõi trời (Dục Giới). Hai điều đó là gì? Thói quen thiện lành và
quan điểm thiện lành. Người nào có hai điều này thì sẽ được ở nơi cõi trời.”
Thói quen thiện lành và quan điểm
thiện lành: người nào sáng suốt có hai điều này, khi thân hoại mạng chung sẽ
tái sinh nơi cõi trời (Dục Giới).
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti33.html
…………….
Itivuttaka 32 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 32
Người có thói quen xấu xa và quan
điểm xấu xa thì địa ngục chờ sẵn ngay trong kiếp này.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, khi có hai điều này thì một
người sẽ vào địa ngục. Hai điều đó là gì? Thói quen xấu xa và quan điểm xấu xa.
Khi có hai điều này thì một người được đặt vào địa ngục.”
Thói quen xấu xa và quan điểm xấu
xa: một người không sáng suốt có hai điều này, khi thân hoại mạng chung sẽ tái
sinh ở địa ngục.
Ghi chú
1. MN 22 đưa ra ví dụ sau về quan
điểm xấu xa: “Trong giáo pháp của Đức Phật, những hành vi mà Đức Phật nói là
chướng ngại; nhưng khi người ấy dễ duôi trong những chướng ngại ấy lại cho rằng
đó không phải là chướng ngại thực sự.” MN 38 đưa ra một ví dụ khác: “Theo như
tôi hiểu về giáo pháp do Đức Phật dạy, thì chỉ có một tâm thức này vận hành và
lang thang [từ kiếp này sang kiếp khác], chứ không phải là một tâm thức khác, chúng
sinh không phải là 1 dòng tâm thức tương tục.”
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti32.html
………….
Itivuttaka 31- Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 31
Hai điều giúp sống an lạc, không
gây hối hận.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có hai điều giúp sống an lạc,
không gây hối hận. Là hai điều nào? Đó là trường hợp người làm việc thiện, làm
việc có trí, che chở những người đang sợ hãi, và không làm điều gì ác độc, man
rợ hay tàn nhẫn. Khi nghĩ rằng, ‘Tôi đã làm việc thiện,’ người ấy thấy an lạc, không
hối hận. Khi nghĩ rằng, ‘Tôi không làm điều ác,’ người ấy thấy an lạc, không hối
hận. Đó là hai điều giúp sống an lạc, không gây hối hận.”
Khi từ bỏ hành vi sai trái nơi thân,
hành vi sai trái nơi lời nói, hành vi sai trái nơi ý, và bất cứ điều gì khác là
khiếm khuyết, người ấy không làm điều bất thiện mà làm nhiều việc thiện, khi
thân hoại mạng chung, người sáng suốt sẽ tái sinh nơi cõi trời.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti31.html
…………..
Itivuttaka 30 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 30
Hai điều gây hối hận.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, có hai điều gây hối hận. Là
hai điều nào? Có trường hợp người không làm điều thiện, không làm điều có trí,
không che chở những người đang sợ hãi, mà lại làm điều ác, man rợ và tàn nhẫn. Khi
nghĩ rằng, ‘Tôi không làm điều thiện,’ người ấy cảm thấy hối hận. Khi nghĩ rằng,
‘Tôi đã làm điều ác,’ người ấy cảm thấy hối hận. Đó là hai điều gây hối hận.”
Do phạm tội nơi thân, nơi lời nói,
nơi tâm, hoặc làm bất cứ điều gì khiếm khuyết, không làm điều thiện, lại làm
nhiều điều bất thiện, khi thân hoại mạng chung, kẻ không sáng suốt sẽ tái sinh
trong địa ngục.
Ghi chú
1. AN 10:176 định nghĩa hành vi
sai trái nơi thân là giết người, trộm cắp và tà dâm; Hành vi sai trái bằng lời
nói bao gồm nói dối, lời lẽ gây chia rẽ, nói lời gay gắt, thô tháo và nói chuyện
phiếm; hành vi sai trái về ý bao gồm lòng tham lam, ác ý và tà kiến (xem chú
thích tại §32).
Xem thêm: AN 4:184
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti30.html
……………..
Itivuttaka 29 – Kinh Phật Thuyết
Như Vậy 29
Giữ gìn các cửa giác quan và biết
tiết độ trong ăn uống dẫn đến sự an lạc trong đời này và đời sau.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, nếu có được hai điều này, một
vị Tỳ kheo sẽ sống an lạc trong đời này; không bị phiền não, không đau khổ,
không bị nung nấu; và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, có thể tái sinh
nơi nhàn cảnh. Hai điều đó là gì? Đó là giữ gìn các cửa giác quan và biết tiết
độ trong ăn uống. Nếu có được hai điều này, một vị Tỳ kheo sẽ sống an lạc trong
đời này; không bị phiền não, không đau khổ, không bị nung nấu; và khi thân hoại
mạng chung, sau khi chết, có thể tái sinh nơi nhàn cảnh.”
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm:
khi một vị Tỳ kheo giữ gìn tốt những cửa này; biết tiết độ trong ăn uống, kiềm
chế các giác quan; vị ấy sẽ trải nghiệm sự an lạc: an lạc nơi thân, an lạc nơi tâm.
Không bị nung nấu nơi thân, không
bị nung nấu nơi tâm dù ngày hay đêm, người như vậy sống an nhiên.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti29.html
……..
Dec 19, 2025
Phẩm 2 Pháp
Kinh Itivuttaka 28 – Kinh Phật
Thuyết Như Vậy 28
Không giữ gìn các giác quan và
không biết tiết độ trong ăn uống dẫn đến khổ đau trong đời này và đời sau.
Đây là lời dạy của Đức Phật, của
vị Arahant, tôi đã nghe như vầy: “Này các Tỳ kheo, khi có hai điều này, một Tỳ
kheo sẽ sống khổ sở trong đời này, phiền muộn, đau khổ và bị nung nấu, rồi khi
thân hoại mạng chung, sau khi chết, có thể sẽ tái sinh nơi khổ cảnh. Hai điều
đó là gì?
Là thiếu giữ gìn các giác quan và
không biết tiết độ trong ăn uống. Nếu có hai điều này, một Tỳ kheo sẽ sống khổ
sở trong đời này, phiền muộn, đau khổ và bị nung nấu, rồi khi thân hoại mạng
chung, sau khi chết, có thể sẽ tái sinh nơi khổ cảnh.”
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm:
khi một Tỳ kheo không giữ gìn những cửa này, không biết tiết độ trong ăn uống,
không kiềm chế các giác quan, người ấy sẽ trải nghiệm khổ đau: khổ đau về thân,
khổ đau về tâm.
Bị nung nấu nơi thân, bị nung nấu
nơi tâm dù ngày hay đêm, người như vậy sống trong đau khổ và phiền não.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Iti/iti28.html
……………..
Comments
Post a Comment